“Đường cáp phía tây bị đất đá kéo đứt. Hai trạm trên núi không trả lời. Trạm xá Đông Khê còn điện được khoảng bốn giờ.” Tôi mở hộp thiết bị. Đèn báo nguồn không sáng. “Ắc quy dự phòng đâu?” “Xe chở ắc quy bị giữ bên kia cầu Thanh Thạch.” Tôi nhìn bản đồ trên tường. Cầu Thanh Thạch nằm ở tuyến phía nam, cách thị trấn mười ba cây số. Nếu cầu bị ngập, xe phải vòng thêm hơn ba giờ. Tôi lấy điện thoại ra theo thói quen. Không có sóng. Một tiếng xe máy dừng trước sân. Người đàn ông bước xuống mặc áo mưa xanh sẫm, ống quần lấm bùn tới đầu gối. Anh tháo mũ bảo hiểm. Nước mưa chảy từ tóc xuống gò má gầy hơn ký ức của tôi. Sáu năm không gặp, Lục Trầm Chu vẫn có cách xuất hiện như thể anh chỉ vừa đi giao một lá thư hơi xa. Anh nhìn tôi, rồi nhìn hộp thiết bị không sáng. “Máy của em cần điện.” “Tôi biết.” “Bộ đàm của đội đường núi cũng cần điện.” “Tôi cũng biết.” “Bưu cục cũ có điện thoại hữu tuyến, hai bình ắc quy và một máy quay tay.” Tôi ngẩng lên. “Bưu cục đó đóng cửa tám năm rồi.” “Dây đồng vẫn còn. Sáng nay tôi thử được một lần.” Tôi không hỏi vì sao anh có chìa khóa. Cha tôi từng là trưởng bưu tá cuối cùng ở đó. Sau khi ông qua đời, tôi giao chìa cho huyện rồi rời Vân Khê. Tôi đã tưởng tòa nhà bị bỏ không cùng những thứ khác mình không muốn nhớ. “Không dùng được,” tôi nói. “Một đường dây không thể thay mạng liên lạc.” “Nhưng một đường dây có thể gọi tới trạm xá. Một người có thể mang tin từ trạm xá tới thôn bên cạnh. Nếu mỗi người biết mình phải chuyển cho ai, đó cũng là một mạng.” Tôi ghét nhất là khi Lục Trầm Chu nói đúng bằng giọng bình thản. “Anh định dùng người chạy trong mưa để thay thiết bị?” “Không. Tôi định dùng người ở những đoạn máy không tới được.” Một tiếng chuông vang lên trong căn phòng trực. Tất cả mọi người cùng quay đầu. Chiếc điện thoại bàn cũ đặt cạnh cửa sổ đang reo, dù cả tòa nhà mất điện. Nhân viên huyện nhấc máy. Chị ta nghe vài giây rồi đưa ống nói cho tôi. Đầu dây bên kia là tiếng rè, tiếng người ho và một giọng nữ rất nhanh.