Tôi nhìn anh. Anh không né. Chúng tôi thống nhất một quy tắc đơn giản. Mỗi phiếu tin phải có số thứ tự. Người nhận phải đọc lại nguyên ý qua đường dây hoặc bộ đàm. Sau khi xác nhận, trạm chuyển buộc một nút chỉ đỏ vào góc giấy. Con dấu đỏ của bưu cục chỉ cho biết phiếu đã đi qua bàn trung tâm. Nó không đủ chứng minh nội dung còn đúng. Một nhân viên trẻ hỏi: “Nếu người dân không hiểu ba dấu đó thì sao?” “Tôi sẽ nói bằng câu dễ nhớ.” Tôi cầm viên phấn viết lên bảng đen. “Có số. Có người đọc lại. Có chỉ đỏ. Thiếu một thứ thì hỏi lại.” Lục Trầm Chu lấy từ túi thư một cuộn chỉ đỏ sẫm. “Tôi dùng nó để buộc túi trên tuyến núi. Ngấm nước vẫn không tuột.” “Anh có bao nhiêu?” “Đủ cho khoảng hai trăm phiếu.” “Nếu vượt quá?” “Thì cắt ngắn hơn. Niềm tin không cần một cái nơ đẹp.” Một nhân viên bật cười. Tôi không cười, nhưng bàn tay đang cầm phấn bớt run. Phiếu đầu tiên đến lúc năm giờ mười hai phút. Tiểu Mãn báo một cụ ông ở ngõ Hạnh Phúc cần bình dưỡng khí dự phòng. Đội hậu cần viết địa chỉ số mười bảy. Lục Trầm Chu đọc xong liền lắc đầu. “Ngõ đó chỉ có mười hai nhà.” Tôi gọi lại trạm xá. Tiểu Mãn quát qua đường dây: “Tôi nói tổ mười bảy, nhà số bảy. Ai gộp hai con số lại vậy?” Nhân viên viết phiếu tái mặt. Tôi không trách cậu ta. Tôi gạch phiếu cũ, viết phiếu mới và yêu cầu cậu đọc lại từng dòng. Sau khi Tiểu Mãn xác nhận, tôi đóng dấu. Lục Trầm Chu buộc nút chỉ đỏ đầu tiên. Anh đưa phiếu cho tôi. “Em đi cùng không?” “Anh không thuộc đội của tôi.” “Đúng. Vì thế em có thể từ chối.” Tôi nhìn chiếc xe máy ngoài cửa. Mưa chưa giảm. Nếu giao cho người khác, chúng tôi sẽ mất thêm thời gian giải thích đường. “Tôi đi. Nhưng tôi chọn tuyến.” “Được.” Chúng tôi tới tổ mười bảy trong hai mươi phút. Ngôi nhà nằm sau một cây hòe bị gió bẻ nghiêng. Cụ ông ngồi trên giường, môi nhợt, còn con trai ông đang cố gọi điện bằng chiếc máy không có tín hiệu. Khi bình dự phòng được nối vào, căn phòng im đi một lúc. Không ai reo mừng. Người ta chỉ thở ra, như thể vừa nhớ lại mình cũng cần không khí.