“Đường cao, ít ngập. Có một đoạn dễ lở. Nếu đi, tôi cần một người ở đây nghe bộ đàm và biết tôi đang ở đâu.” Anh không nói sẽ tự đi bất chấp. Anh đưa dữ kiện, chờ quyết định và nói rõ cái giá. Tôi nhìn bản đồ. “Tôi ở đây. Mười phút báo một lần. Nếu sau hai lần không trả lời, anh quay lại, dù có tìm thấy pin hay chưa.” “Được.” Anh đi vào mưa. Tôi đứng dưới mái kho bỏ hoang, một tay giữ dây nối, một tay cầm bộ đàm. Mỗi mười phút, giọng anh lại vang lên. “Qua mốc cây phong.” “Đã tới đoạn đất lở. Tôi vòng lên taluy.” “Thấy kho. Cửa khóa.” Tôi đáp: “Anh là người phát thư. Đừng nói với tôi anh không mở được một ổ khóa cũ.” “Tôi phát thư, không trộm thư.” “Phá cửa đi. Tôi ghi trách nhiệm.” “Đã rõ, Trình kỹ sư.” Bốn mươi phút sau, anh trở lại với hai bộ pin buộc sau xe của một người dân. Trạm đông duy trì được thiết bị qua đêm. Tiểu Mãn nói qua đường dây: “Tôi nợ hai người một bữa cơm.” Lục Trầm Chu đáp: “Ghi nợ riêng. Đừng gộp chúng tôi.” Tôi quay sang nhìn anh. “Anh sợ bị hiểu lầm à?” “Không. Tôi sợ em nghĩ tôi đang dùng một chuyến giao pin để đòi điều gì.” Câu trả lời làm nụ cười trên môi tôi tắt đi, không phải vì khó chịu. Chúng tôi trú mưa dưới mái hiên nhà văn hóa. Ánh đèn bộ đàm hắt lên mặt anh. Tôi hỏi câu đã nằm trong cổ họng sáu năm. “Ngày đó vì sao anh không tới?” Lục Trầm Chu nhìn mưa. “Cha em gọi tôi tới bưu cục đêm trước. Ông phát hiện tim không ổn nhưng không chịu đi viện vì còn một đoàn thư cứu trợ chưa phân tuyến. Tôi ép ông lên xe. Trên đường, xe gặp sạt lở. Khi tới được bệnh viện thì đã muộn.” Tôi nghe tiếng máng xối tràn nước. “Vậy tin nhắn thì sao?” “Tôi nghĩ em sẽ không bao giờ tha thứ nếu nhìn thấy tôi. Tôi cũng nghĩ nếu kể vào lúc em vừa mất cha, em sẽ phải an ủi cả tội lỗi của tôi.” “Anh không gây ra cái chết của ông.” “Tôi biết điều đó bằng lý trí.” “Nhưng anh vẫn quyết định thay tôi rằng tôi không được biết.” “Đúng.” Anh không biện hộ. “Tôi đã sai.”