Tôi chờ một câu nhưng anh không nói. Anh không bảo mình làm vậy vì yêu tôi. Không dùng tình yêu như tấm khăn phủ lên lỗi lầm. “Tại sao sau đó anh không giải thích?” “Vì mỗi ngày trôi qua, lời giải thích càng giống cái cớ. Rồi em rời đi. Tôi viết nhiều lần nhưng không gửi.” “Anh vẫn làm ở bưu cục?” “Bưu cục đóng. Tôi chuyển sang tuyến phát thư đường núi.” “Vì cha tôi?” “Một phần. Phần còn lại vì tôi giỏi việc đó.” Tôi dựa lưng vào tường. Câu chuyện không biến quá khứ thành hiểu lầm có thể xóa bằng một cái ôm. Anh đã bỏ tôi lại trong ngày tệ nhất. Tôi đã dùng sự im lặng của anh để kết luận mọi điều còn lại. Cả hai đều có phần đúng, và chính vì thế vết thương mới bền. “Cảm ơn vì đã nói,” tôi bảo. “Nhưng tôi chưa tha thứ.” “Em không cần làm ngay.” “Có thể không bao giờ.” “Tôi biết.” Bộ đàm vang lên trước khi chúng tôi nói thêm. Trạm bắc báo một nhóm người đang lan tin hồ chứa sắp vỡ. Không ai biết tin bắt đầu từ đâu. Tôi yêu cầu từng trạm ngừng chuyển tiếp lời truyền miệng. Chúng tôi gọi nhà máy thủy lợi bằng đường hữu tuyến. Người trực xác nhận mực nước cao nhưng đập chính ổn định. Tôi viết một phiếu mới, số bốn mươi bảy, ghi rõ giờ xác nhận và tên người trả lời. Thay vì cử một người mang đi khắp nơi, tôi yêu cầu mỗi trạm đọc lại câu xác nhận cho trạm kế tiếp. Trong hai mươi phút, tin đồn giảm. Người dân bắt đầu tự hỏi nhau ba câu: số bao nhiêu, ai đọc lại, chỉ đỏ đâu. Lúc trở về bưu cục, tôi thấy bà cụ muốn nấu cháo đang ngồi giữa một nhóm thanh niên, dạy họ buộc nút chỉ sao cho không tuột. Một cậu bé đọc phiếu cho mẹ nghe. Người mẹ sửa lại tên thôn bị viết sai. Mạng chuyển tin không còn là của tôi. Đó lẽ ra phải là lúc tôi yên tâm. Nhưng trên bàn có ba phiếu mang con dấu đỏ thứ hai mà không ai nhớ đã chuyển về. Phiếu thứ nhất điều bao cát về tuyến nam. Phiếu thứ hai chuyển xe phát điện khỏi trạm xá. Phiếu thứ ba yêu cầu trường Thanh Sơn chuẩn bị sơ tán qua cầu Thanh Thạch lúc bình minh. Cả ba đều dùng giấy dày có vệt xanh ở mép.