Lục Trầm Chu trở về lúc bốn giờ hai mươi, vai áo rách một đường, giày bám loại bùn đỏ giống trên phiếu. Anh mang theo một mảnh kim loại cong và tấm ảnh chụp bằng máy nhỏ của đội đường núi. “Tôi xuống gầm cầu,” anh nói. “Một thanh giằng đã lệch. Chưa thể kết luận cầu sập, nhưng không nên cho đoàn người qua.” Tôi hỏi: “Anh biết từ khi nào?” “Đêm qua tôi thấy bùn đỏ trên túi phiếu. Sáng nay một tài xế nói nghe tiếng va dưới cầu.” “Vì sao không báo hết?” “Tôi chưa có bằng chứng.” “Anh có nghi ngờ.” “Tôi sợ nếu báo sớm, em sẽ đóng tuyến duy nhất còn lại dựa trên cảm giác của tôi.” “Đó là quyết định của tôi và những người chịu hậu quả, không phải của anh.” “Tôi chỉ muốn kiểm tra trước.” “Anh đã hứa mười phút báo một lần khi vào tuyến nguy hiểm.” “Lần này không có ai giữ đầu dây đủ rảnh.” “Tôi có thể giao người khác.” “Mọi người đang quá tải.” “Và anh lại quyết định thay tất cả.” Anh im lặng. Tôi chỉ vào cuộn chỉ đỏ trên bàn. “Anh dạy mọi người rằng tin cậy cần người trả lời. Rồi chính anh biến mất hai giờ.” “Tôi xin lỗi.” “Xin lỗi không trả lại hai giờ đó.” “Tôi biết.” “Anh rời mạng chuyển tin. Giao túi, bộ đàm và bản đồ cho Mạnh Đức.” Mọi người trong bưu cục đều nghe thấy. Mặt Lục Trầm Chu tái đi, nhưng anh không phản đối. Anh tháo túi thư đặt xuống bàn, lấy bản đồ trong áo ra và tắt bộ đàm. “Được.” Anh nhìn tôi. “Thông tin về cầu là thật. Đừng bỏ nó chỉ vì người mang tin đã sai.” “Tôi sẽ kiểm tra độc lập.” “Tôi ở ngoài hiên. Nếu cần hỏi đường, em có thể gọi. Nếu không, tôi không can thiệp.” Anh đi ra. Tôi không thấy nhẹ nhõm. Mười phút sau, trạm bắc báo trường Thanh Sơn đã nhận một phiếu mới, yêu cầu sơ tán ngay trước khi trời tối. Phiếu có số thuộc dải cũ, có con dấu đỏ và một sợi chỉ đỏ. Tôi lạnh sống lưng. “Nút chỉ buộc thế nào?” Mạnh Đức hỏi lại giáo viên ở trường rồi đáp: “Hai vòng, thắt bên trái.” Trạm bắc luôn buộc một vòng bên phải. Người làm giả đã bắt đầu học quy tắc của chúng tôi. “Phiếu do ai mang?”