Trang đầu không có bí mật. Chỉ là ngày, thời tiết, số túi thư, người nhận ca. Chữ của cha tôi đều, nhỏ và kiên nhẫn. Ở cuối mỗi ngày, ông luôn viết một dòng: Thay đổi tuyến phải ghi người đề nghị, người xác nhận và người chịu ảnh hưởng đã được báo chưa. Tôi lật nhanh tới phần bản đồ cầu Thanh Thạch. Mười năm trước, bưu cục từng có tuyến tránh qua đồi Mộc Miên. Tuyến đó dài hơn bốn cây số, chỉ đi bộ được, nhưng không qua cầu. Bên lề là một ghi chú của cha: Khi chuông bưu cục vang liên tục, mọi phiếu cũ mất hiệu lực. Người phát thư quay về trạm gần nhất để nhận số mới. Cha không để lại một bằng chứng minh oan cho ai. Ông để lại cách thừa nhận rằng hệ thống đã thay đổi. Tôi chạy ra hiên. Lục Trầm Chu vẫn đứng đó, đúng như đã nói. Anh đang giúp một người già che túi gạo nhưng không đeo túi thư, không cầm bộ đàm. “Tôi cần hỏi đường,” tôi nói. Anh buông tấm bạt. “Em hỏi đi.” “Tuyến đồi Mộc Miên còn đi được không?” “Đoạn đầu được. Đoạn sau có một mương mới. Người lớn qua được, trẻ nhỏ cần dây vịn.” “Anh biết điểm nào có thể chặn đoàn trường trước cầu?” “Khúc cua cây du, cách cầu hơn một cây số.” “Anh có sẵn sàng đi không?” Anh nhìn tôi, không bước tới. “Với tư cách gì?” “Người dẫn tuyến, dưới điều phối của trạm bắc. Mười phút báo một lần. Không tự đổi nhiệm vụ. Nếu mất liên lạc, quay về điểm hẹn.” “Em đã quyết định cho tôi trở lại mạng?” “Tôi đang hỏi anh có nhận nhiệm vụ không.” “Có.” “Tôi chưa tha thứ chuyện anh giấu thông tin.” “Không cần gộp hai việc.” Tôi đưa bộ đàm cho anh. “Đi cùng Mạnh Đức. Chờ phiếu mới có dải số bắc.” “Đã rõ.” Anh nhận bộ đàm nhưng không chạm tay tôi. Đúng lúc đó, Lục Gia Hòa từ cuối phố chạy tới. Con bé ôm túi thư, mặt trắng bệch. Một người bán hàng đã đưa nó đi đường tắt từ trường về. Gia Hòa lôi ra một tờ phiếu nhàu. “Cô Trình, cô giáo bảo cháu mang cái này cho cô. Họ đã đi rồi. Chuông không kêu.” Tôi giật phiếu khỏi tay con bé. Dòng đầu là chữ của tôi, được chép từ một phiếu cũ. Dòng cuối viết thêm bằng mực khác. Người cầm con dấu đỏ không thuộc bưu cục. Tôi hỏi: