Sáng hôm sau, chúng tôi gặp nhau trước kho chứng cứ của văn phòng luật cũ ở Thượng Hải. Tôi không còn tư cách giám định viên của dự án, nên chỉ được vào với vai trò người lập tài liệu gốc. Cảnh Hoài đã xin phép bằng văn bản, ghi rõ tôi có quyền quan sát nhưng không chạm vào vật chứng. Người quản kho đọc từng điều khoản trước camera rồi mới mở cánh cửa thép. Chiếc hộp nằm ở ngăn thứ ba, phủ một lớp bụi mỏng. Trên nắp có hai dải niêm phong: dải đầu mang ngày của năm năm trước, dải thứ hai là dấu kiểm kê sau khi văn phòng giải thể. Cả hai đều nguyên vẹn. Người quản kho đặt hộp dưới máy quay, đọc mã và cắt dải theo đường đã đánh dấu. Bên trong là bản sao biên bản trước và sau khoảng trống camera, một đĩa lưu dữ liệu, ba ảnh in và phong bì màu xám. Tấm ảnh tôi cần nằm ở cuối cùng. Tôi nhận ra góc chụp ngay lập tức. Năm ấy, khi kiểm tra mặt sau khung, tôi đã đặt thước tỷ lệ cạnh một vết xước hình bán nguyệt. Trên ảnh, dây buộc ở góc khung là màu xám. Mép tấm bìa lưng có ba lỗ ghim xếp thành hình tam giác. Ở phía dưới, một mảnh nhãn chỉ còn chữ B và nửa nét của số tám. Không phải B mười bảy. Tôi cúi gần hơn nhưng giữ hai tay sau lưng. “Đây là khung B mười tám.” Cảnh Hoài hỏi người quản kho phóng lớn phần nhãn. Nét còn lại cong ở đỉnh và thắt giữa. Không thể là số bảy. “Vậy chiếc khung cô báo bị mở trái phép năm đó thuộc bức B mười tám,” anh nói. “Nhưng hồ sơ công khai đã ghi B mười bảy.” Người quản kho mở đĩa dữ liệu trên máy độc lập. Trong thư mục ảnh có tệp gốc, thời gian tạo là mười tám giờ năm mươi bốn. Bảy phút mất camera bắt đầu lúc mười chín giờ mười hai. Tấm ảnh được chụp trước khoảng trống. Sau khoảng trống, biên bản niêm phong lại ghi B mười bảy. Có người đã đổi mã trong chính thời gian hai chiếc khung rời khỏi camera. Tôi nhìn bản báo cáo cũ của mình. Ở phần mô tả vật thể, tôi đã ghi “khung của chân dung nữ, mã B mười bảy” dựa trên phiếu do quỹ cung cấp sau sự cố. Tôi không đối chiếu với tấm ảnh chính mình chụp. Tôi đã có bằng chứng đúng trong tay, nhưng để một nhãn hồ sơ dẫn mình đến kết luận sai. “Vì sao ảnh này không nằm trong bộ hồ sơ hội đồng nhận được?” tôi hỏi. Cảnh Hoài lấy phong bì xám. Bên trong là yêu cầu giữ kín danh tính người đã sao chép dữ liệu camera. Người ký là Mạnh Giai, thư ký riêng của bà Hà. “Cô ấy đưa tôi đĩa này hai ngày sau sự cố,” anh nói. “Cô ấy nói có người đã sửa danh mục trên hệ thống và đang tìm bản sao. Cô ấy đồng ý làm chứng nếu được bảo vệ trong vụ điều tra tài chính khác.” “Anh giữ ảnh để bảo vệ cô ấy.” “Tôi giao bản mã hóa cho cơ quan điều tra. Hội đồng nghề nghiệp của cô không có quyền truy cập vụ kia.” “Nhưng anh có thể cho họ biết mã vật thể đã đổi.” “Tôi đã gửi một văn bản nói kết luận về B mười bảy chưa đủ căn cứ. Văn bản đó bị coi là lời tự bảo vệ.” Tôi nhớ đã đọc nó. Khi ấy, tôi chỉ thấy một luật sư không chịu giải thích chữ ký của mình xuất hiện trên bản niêm phong sau sự cố. “Chữ ký đó thật không?” “Không.” “Anh đã chứng minh chưa?” “Có giám định chữ ký, nhưng bản gốc lệnh đổi khung biến mất. Bản chụp quá mờ để kết luận ai làm giả.” Tôi nhìn tấm ảnh lần nữa. Ba lỗ ghim hình tam giác trên bìa lưng giống dấu ghim của biên bản Cảnh Hoài đã mang đến buổi giám định trong teaser của ba tuần sau. Nhưng lúc này, tôi chưa biết nó dẫn tới đâu. Người quản kho lập bản sao chứng thực. Tôi ký xác nhận mình nhận diện ảnh do chính mình chụp. Khi đặt bút xuống, tôi cảm thấy như đang ký vào một phiên bản khác của quá khứ. Ra khỏi kho, Cảnh Hoài đưa tôi một chai nước. Tôi không nhận ngay. “Xin lỗi,” tôi nói. Anh đứng yên. “Tôi xin lỗi vì đã biến nghi ngờ thành kết luận, vì không đối chiếu tấm ảnh với mã trên phiếu, và vì đã viết rằng anh thay niêm phong để che giấu. Tôi không thể trả lại năm năm đó. Nhưng tôi sẽ sửa hồ sơ bằng tên mình, dù kết quả vụ này thế nào.” Cảnh Hoài nhìn dòng người đi qua sảnh. Một lúc sau, anh mới nói: “Tôi đã chờ câu ấy rất lâu.” “Tôi biết.” “Không, cô không biết.” Giọng anh vẫn bình tĩnh, nhưng bàn tay giữ chai nước siết chặt. “Tôi từng nghĩ nếu cô xin lỗi, mọi thứ sẽ trở lại như trước. Sau đó tôi hiểu chẳng có trước nào để trở lại. Khi ấy chúng ta còn chưa kịp tin nhau.” “Tôi đã tin bằng chứng giả hơn tin anh.” “Cô tin cách mình đọc bằng chứng. Hai việc khác nhau.” Tôi nhận chai nước. “Bây giờ anh có tin cách tôi đọc không?” “Bây giờ tôi tin cô biết mình có thể đọc sai.” Đó không phải một lời tha thứ lãng mạn. Nó quý hơn. Nó là một phần quyền được làm lại, nhưng không xóa giá của lần trước. Chúng tôi mang bản chứng thực về Tô Châu. Trong lúc tàu chạy qua những cánh đồng ngập nước, Cảnh Hoài nhận được thư của hội đồng. Yêu cầu giám định viên độc lập đã được chấp thuận. Người thay tôi là giáo sư Tề, từng hướng dẫn khóa phục hồi tư cách của tôi. “Thầy ấy sẽ lặp lại phép đo,” tôi nói. “Nếu mẫu nguyên vẹn, kết quả sẽ giống.” “Cô không thất vọng?” “Có. Nhưng sự thật không cần mang tên tôi.” Cảnh Hoài nhìn ra cửa sổ. “Câu đó không giống cô năm năm trước.” “Tôi đã phải trả học phí khá đắt.” Khóe môi anh hơi cong. Đó là lần đầu tiên tôi thấy anh cười kể từ ngày tái ngộ. Giáo sư Tề hoàn thành phép đo lặp trong hai ngày. Kết quả xác nhận chữ ký nâu và lớp phủ được thêm trong vòng bốn năm gần đây. Ông cũng phát hiện dưới vùng ký hiệu kho có sắc tố đỏ son trùng với sắc tố trong bức chân dung nam B mười tám theo hồ sơ phân tích cũ. Điều đó tạo ra một khả năng mới: tấm vải hiện tại có thể không phải bức chân dung nữ B mười bảy được sửa nhãn. Nó có thể là B mười tám đã bị vẽ phủ để trông giống B mười bảy. Muốn xác nhận, cần ảnh hồng ngoại toàn bộ ở độ phân giải cao. Giáo sư Tề gửi yêu cầu và mời tôi làm nhân chứng nguồn hồ sơ, không tham gia thao tác. Khi ảnh được ghép xong, cả phòng im lặng. Bên dưới gương mặt người phụ nữ là đường viền của một khuôn mặt khác rộng hơn. Dưới nhành hải đường là bàn tay đặt trên thành ghế. Lớp tranh trên không chỉ che chữ ký. Nó che gần như toàn bộ bức chân dung nam. Bức đang ở xưởng là B mười tám. Kẻ nào đó đã dùng bức B mười tám, vẽ phủ thành hình dáng gần giống B mười bảy, thêm mã kho và chữ ký giả, rồi đặt vào khung từng chứa B mười bảy. Mục đích không phải bán một bức giả ra ngoài. Mục đích là giữ một vật thể trong bộ sưu tập đủ giống B mười bảy để kích hoạt điều khoản cho quỹ nắm quyền. Còn B mười bảy thật đã bị bán dưới tên B mười tám cho người mua ẩn danh. Cảnh Hoài mở hồ sơ giao dịch bốn năm trước. Công ty mua tranh đã giải thể, nhưng tài khoản thanh toán dẫn đến một quỹ tín thác do em trai Hứa Tư Dung đại diện. “Chưa đủ để kết luận bà ấy ra lệnh,” anh nói. “Tôi biết.” “Nhưng đủ để xin phong tỏa hồ sơ giao dịch.” Giáo sư Tề quay sang tôi. “Nghi Lan, em có nhớ báo cáo cũ còn ghi điều gì về bìa lưng không?” Tôi đọc lại bản sao. Ngoài vết xước và niêm phong, tôi từng mô tả ba lỗ ghim hình tam giác trên tấm bìa. Khi đó tôi nghĩ chúng là dấu tháo lắp cũ. Giáo sư Tề chỉ vào ảnh danh mục mười hai năm trước. Mặt sau B mười bảy có một phong bì tài liệu ghim ở vị trí tương tự. B mười tám không có. Nếu ảnh tôi chụp là B mười tám mà vẫn có ba lỗ ghim, nghĩa là tấm bìa lưng của B mười bảy đã từng được chuyển sang khung B mười tám trước khi tôi kiểm tra. Phụ lục di chúc có thể đã nằm trong phong bì ấy. “Sau đó tấm bìa đi đâu?” tôi hỏi. Cảnh Hoài lật lời khai Vũ Mặc. Ông nói sau chuông báo, hai khung nằm trên hai xe đẩy. Nhưng ông không kiểm tra tấm bìa. Nếu người đổi khung lấy riêng phong bì, họ có thể để lại bìa rồi sửa nhãn. Chúng tôi cần tìm Mạnh Giai. Chương trình bảo vệ nhân chứng của cô đã kết thúc một năm trước. Cảnh Hoài gửi đề nghị liên hệ qua luật sư đại diện. Hai ngày không có trả lời. Đến tối ngày thứ ba, một thư điện tử đến từ địa chỉ mới. Mạnh Giai đồng ý nói chuyện với điều kiện không ghi hình khuôn mặt và phải có mặt một công chứng viên độc lập. Cuộc gặp diễn ra trong phòng họp nhỏ của một thư viện công cộng. Cô gầy, tóc cắt ngắn, giọng nói khàn như người lâu ngày ít dùng tiếng mẹ đẻ. “Tôi không biết phụ lục ghi gì,” cô nói. “Bà Hà chỉ bảo tôi sao chép lịch sử truy cập kho và gửi cho luật sư Lục nếu danh mục B mười bảy thay đổi.” “Danh mục thay đổi khi nào?” Cảnh Hoài hỏi. “Trước hôm mất camera ba ngày. Mã B mười bảy được gắn sang một hồ sơ ảnh mới, nhưng ảnh xem trước vẫn là bức chân dung nữ. Tôi nghĩ chỉ là lỗi hệ thống.” “Sau đó cô thấy gì?” “Tối chuyển khung, giám đốc Hứa gọi tôi mang con dấu văn phòng xuống kho. Bà ấy có một tờ lệnh đã in sẵn. Tôi từ chối đóng dấu vì không có chữ ký bà Hà. Bà ấy nói luật sư Lục đã phê duyệt điện tử.” “Cô kiểm tra chưa?” “Không có phê duyệt trên hệ thống. Nhưng sáng hôm sau, một bản chụp lệnh có chữ ký của anh xuất hiện trong hồ sơ.” “Bản gốc?” “Không bao giờ có.” Mạnh Giai lấy từ túi một chiếc thẻ nhớ. “Tôi giữ ảnh chụp màn hình lịch sử chỉnh sửa. Nhưng nó chỉ cho thấy tài khoản giám đốc Hứa truy cập, không chứng minh bà ấy trực tiếp thao tác. Mật khẩu có thể do trợ lý dùng.” Cảnh Hoài không vội nhận. Anh giải thích rủi ro, cách niêm phong và quyền rút lời khai trước khi ký. Mạnh Giai lắng nghe, rồi tự đặt thẻ vào túi chứng cứ. Tôi hỏi: “Cô có thấy tấm phụ lục không?” “Có một lần. Nó nằm trong phong bì ghim sau khung. Tôi chỉ thấy góc giấy, có dấu ghim ba lỗ. Bà Hà gọi nó là bản chỉ dẫn cuối cùng.” “Sau đêm chuyển khung?” “Phong bì biến mất. Một tuần sau, giám đốc Hứa đưa cho hội đồng một phụ lục khác, nói được tìm thấy trong két.” “Cô có nhận ra nó không?” “Loại giấy giống nhau, nhưng dấu ghim khác. Bản mới có hai lỗ thẳng.” Ba lỗ hình tam giác trở thành dấu phân biệt giữa phụ lục gốc và bản thay thế. Mạnh Giai còn nhớ một điều. Trước khi qua đời, bà Hà từng yêu cầu mọi giấy tờ quan trọng phải được đóng dấu nổi ở góc trái. Bản phụ lục hiện hành trong hồ sơ chỉ có dấu mực phẳng. Cảnh Hoài xin lệnh kiểm tra bản giấy gốc đang lưu ở két của quỹ. Hứa Tư Dung phản đối, nói tài liệu đã được công chứng. Nhưng công chứng chỉ xác nhận bản sao khớp tài liệu được xuất trình, không xác nhận tài liệu ấy thực sự do bà Hà lập. Hội đồng cho phép kiểm tra dưới giám sát. Bản phụ lục hiện hành có hai lỗ ghim thẳng, không có dấu nổi, và sợi giấy chứa chất làm trắng quang học mới hơn loại giấy văn phòng Hà gia từng dùng. Chữ ký của bà Hà là thật, nhưng nằm trên một tờ giấy khác đã bị cắt và ghép vào phần nội dung mới bằng kỹ thuật in tinh vi. Chúng tôi đã chứng minh phụ lục hiện hành là tài liệu bị tạo lại. Nhưng phụ lục gốc vẫn mất tích. Không có nó, không ai biết ý chí cuối cùng của bà Hà thật sự giao bộ sưu tập cho ai, hoặc điều khoản về B mười bảy có tồn tại hay không. Hứa Tư Dung lập tức đổi chiến lược. Bà không còn khẳng định tài liệu hiện hành hoàn toàn hợp lệ. Bà nói một nhân viên đã tự ý phục dựng bản hỏng để “giữ nội dung”, và mọi người đang biến sai sót hành chính thành âm mưu. Cùng ngày, một bài viết ẩn danh xuất hiện trên mạng. Bài viết kể lại vụ tôi tố cáo sai Cảnh Hoài, kèm ảnh thẻ nghề nghiệp và gọi chúng tôi là “cặp đôi dựng bê bối để trả thù quỹ”. Trước cửa xưởng có người chờ chụp ảnh. Điện thoại tôi nhận hàng chục tin nhắn. Bảo tàng yêu cầu tôi tạm nghỉ cho đến khi điều tra kết thúc. Tôi tắt màn hình, ngồi một mình trong căn hộ. Trên bàn là bản sao báo cáo cũ và tấm ảnh khung B mười tám. Tôi đã nghĩ khi tìm được sự thật, cảm giác xấu hổ sẽ nhẹ đi. Nhưng sự thật chỉ làm đường nét của lỗi cũ rõ hơn. Cảnh Hoài gọi ba lần. Tôi không nghe. Lần thứ tư, anh nhắn: Tôi đang ở dưới nhà. Nếu cô không muốn gặp, tôi sẽ để tài liệu ở quầy lễ tân. Tôi xuống sau mười phút. Anh đứng bên cửa kính, áo vai còn ướt. Trên tay không phải hồ sơ mà là một túi thức ăn và chiếc đèn soi cầm tay tôi bỏ quên ở phòng dữ liệu. “Tôi không cần được chăm sóc,” tôi nói. “Đây là đồ của cô.” Anh đưa đèn. “Thức ăn là của tôi. Nếu cô không muốn, tôi sẽ mang về.” Tôi nhìn túi thức ăn. “Ứng dụng giao hàng mua?” “Lần này tôi tự mua.” Tôi bật cười dù mắt nóng lên. Chúng tôi ngồi ở khu sảnh chung, cách nhau một chiếc bàn thấp. “Anh có thể kiện bài viết,” tôi nói. “Không cần ngay. Phản ứng vội chỉ đẩy nó lên.” “Tôi lại làm anh bị kéo vào.” “Không. Tôi chọn vụ này.” “Anh luôn nói như thể lựa chọn không làm anh đau.” Cảnh Hoài nhìn tôi. “Tôi không nói thế.” Tôi cúi xuống chiếc đèn. “Tôi muốn rời cuộc điều tra.” “Vì sao?” “Tôi không còn chức danh trong dự án. Mọi bước tiếp theo đều có thể bị nói là xung đột. Giáo sư Tề đủ khả năng hoàn tất.” “Đó là lý do nghề nghiệp. Còn lý do thật?” “Tôi sợ.” Nói ra hai chữ ấy khó hơn mọi kết luận kỹ thuật. “Tôi sợ nếu tiếp tục, người ta sẽ thấy toàn bộ lỗi cũ. Tôi sợ nếu dừng, Hứa Tư Dung sẽ thắng. Tôi cũng sợ mình đang ở đây vì muốn sửa quan hệ với anh hơn là vì bức tranh.” Cảnh Hoài im lặng đủ lâu để tôi không thể tự rút lời. “Cô không cần ở lại với tư cách giám định viên,” anh nói. “Cô là người tạo ảnh gốc năm năm trước, người nhận diện chuỗi thay đổi và người có quyền sửa báo cáo của chính mình. Nhưng nếu cô chỉ ở lại vì tôi, tôi sẽ yêu cầu cô rời đi.” Tôi ngẩng lên. “Còn nếu cô rời đi vì nghĩ tôi cần được bảo vệ khỏi cô,” anh tiếp, “thì cô lại đang quyết định thay tôi.” Tôi nhớ ngày ở xưởng, khi anh hỏi tôi muốn anh làm gì. Anh đã trao quyền lựa chọn cho tôi. Bây giờ anh yêu cầu tôi trả lại điều đó. “Tôi cần một đêm,” tôi nói. “Được.” Anh đứng dậy, để túi thức ăn trên bàn. “Cái này thật sự là của cô.” Sáng hôm sau, tôi đến bảo tàng, nộp đơn xin sửa kết luận nghề nghiệp năm năm trước. Tôi không xin quay lại dự án. Tôi đề nghị cung cấp toàn bộ ảnh gốc, nhật ký thao tác và tham gia với tư cách nhân chứng kỹ thuật nếu hội đồng cần. Trong lúc sắp xếp ảnh, tôi phát hiện một chi tiết chưa ai chú ý. Tấm ảnh khung B mười tám được chụp trước khoảng trống camera. Ở góc trái bìa lưng, ngoài ba lỗ ghim còn có một đường lõm hình chữ nhật. Khi tăng tương phản, tôi thấy một phần dấu tròn nổi trên giấy đã ép vào bìa. Dấu ấy không nằm ở góc trái như Mạnh Giai nhớ. Nó nằm gần giữa mép trên. Tôi đối chiếu kích thước với bản phụ lục hiện hành. Không khớp. Sau đó tôi nhớ phong bì xám trong hộp chứng cứ. Yêu cầu bảo mật của Mạnh Giai được ghim bằng ba lỗ hình tam giác. Góc trên phong bì có một vết ép tròn mờ. Tôi gọi Cảnh Hoài. “Phong bì xám anh giữ năm năm trước đến từ đâu?” “Mạnh Giai đưa cùng đĩa dữ liệu.” “Cô ấy tự chuẩn bị?” “Cô ấy nói lấy một phong bì trống trong phòng bà Hà.” “Anh còn giữ phong bì gốc?” “Có.” “Đừng mở thêm. Kiểm tra mặt trong dưới ánh xiên. Có thể nó không hề trống.” Hai giờ sau, tại kho chứng cứ, chúng tôi soi mặt trong phong bì. Lớp giấy kép ở đáy dày bất thường. Đường dán đã cũ và đều, không có dấu mở lại. Người quản kho dùng máy chụp xuyên không phá hủy. Bên trong lớp đáy là một tờ giấy gấp tư. Mạnh Giai đã vô tình lấy đúng chiếc phong bì chứa phụ lục gốc, rồi dùng nó để đựng yêu cầu bảo mật. Suốt năm năm, tài liệu mọi người tìm kiếm nằm trong hộp chứng cứ của Cảnh Hoài, được niêm phong vì một lý do hoàn toàn khác. Không ai được phép mở ngay. Cảnh Hoài xin lệnh khẩn cấp, mời công chứng viên, đại diện hội đồng và chuyên gia giấy. Tôi đứng ngoài danh sách thao tác, chỉ cung cấp cơ sở phát hiện. Tối hôm đó, lệnh được chấp thuận. Tờ giấy bên trong có ba lỗ ghim hình tam giác và dấu nổi ở góc trái. Nội dung không giao bộ sưu tập cho Quỹ Minh Châu, cũng không giao thẳng cho hội đồng công ích. Bà Hà quy định bộ sưu tập phải được chuyển thành tài sản công nếu người quản lý đương nhiệm từng bán hoặc thay đổi danh mục mà không có biểu quyết độc lập. Bức B mười bảy được chọn làm vật kiểm tra: nếu nó không còn đúng vị trí, điều khoản chuyển giao tự động có hiệu lực. Bà Hà đã dự đoán có người sẽ cố lấy quyền bằng cách tráo chính vật chứng. Hứa Tư Dung không chỉ cần giả một phụ lục thuận lợi. Bà ta cần làm cho B mười bảy trông như vẫn còn trong bộ sưu tập. Sự thật hoàn chỉnh đã ở trước mắt. Nhưng để nó có giá trị, chúng tôi phải chứng minh từng bước công khai, bằng các phép đo có thể lặp lại và chuỗi niêm phong không phụ thuộc vào lời của tôi hay Cảnh Hoài. Tôi nhìn tờ phụ lục sau lớp kính bảo vệ. “Bà ấy sẽ nói phong bì bị anh cài vào hộp.” “Đúng.” “Bà ấy sẽ dùng quan hệ của chúng ta để phủ nhận cả chuỗi.” “Đúng.” “Vậy phải mở toàn bộ quy trình.” Cảnh Hoài hiểu ngay. “Giám định công khai?” “Có camera, đại diện các bên, dữ liệu gốc được tạo đồng thời ở hai nơi. Giáo sư Tề làm giám định chính. Tôi trình bày sai lầm cũ và nguồn ảnh. Anh trình bày chuỗi niêm phong, nhưng không giữ bản duy nhất.” “Nếu cô công khai báo cáo sai, hội đồng có thể thu hồi tư cách lần nữa.” “Tôi biết.” “Bảo tàng có thể chấm dứt hợp đồng.” “Tôi biết.” Anh nhìn tôi rất lâu. “Cô chắc chứ?” “Tôi không chắc mình sẽ còn gì sau đó.” Tôi đặt tay lên mặt bàn lạnh. “Nhưng lần này tôi biết rõ phần nào là bằng chứng, phần nào là suy luận, và phần nào là cái giá tôi tự chọn.” Cảnh Hoài lấy từ cặp một tờ giấy trắng. “Vậy chúng ta lập kế hoạch. Mỗi người chỉ làm đúng phần mình có quyền.” Ngoài cửa sổ kho, mưa lại bắt đầu rơi. Ba tuần trước buổi giám định mở, chúng tôi cuối cùng đã tìm thấy phụ lục gốc. Nhưng khó nhất không còn là tìm sự thật. Khó nhất là xây một con đường để sự thật đi ra ngoài mà không phải dựa vào lòng tin của bất kỳ ai.