“Tôi sẽ nói chuyện với hội đồng. Còn cô Tống,” bà ta chuyển sang tôi, “tôi nghe nói cô rất thích biến nghi ngờ thành kết luận. Lần này nên nhớ mình đã mất gì.” Cuộc gọi kết thúc. Tôi nhìn màn hình tối đi. “Bà ấy biết vụ cũ.” “Trong giới này, ai cũng biết.” Cảnh Hoài tháo găng. “Điều quan trọng là cô có lặp lại nó không.” Tôi thấy nóng ở cổ dù phòng chỉ mười chín độ. “Anh nghĩ tôi lại kết luận vội?” “Tôi nghĩ cô đang đứng trước một sai lệch thật. Sai lệch thật thường nguy hiểm hơn bằng chứng giả, vì nó khiến người ta tin mọi suy luận tiếp theo cũng đúng.” “Anh đến đây để nhắc tôi bài học cũ?” “Không.” Anh nhìn bức tranh. “Tôi đến vì phụ lục di chúc mô tả một bức chân dung mã mười bảy, kho B. Người sở hữu bức đó có quyền quyết định toàn bộ bộ sưu tập sẽ thuộc quỹ hay được chuyển thành tài sản công.” Tôi hiểu vì sao một bức tranh không nổi bật lại được đưa đi gấp. “Nếu đây là bức mã mười bảy…” “Thì phụ lục đang lưu có thể đã gắn với sai vật thể.” “Và nếu nó không phải?” “Thì có người muốn chúng ta tin nó phải.” Chiều hôm ấy, hội đồng quỹ cử ba người đến kiểm kê. Hứa Tư Dung không xuất hiện. Bà gửi thư yêu cầu giới hạn mọi kiểm tra ở mức không phá hủy và phải hoàn thành trong bốn mươi tám giờ. Tôi lập kế hoạch: chụp ánh sáng thường, ánh xiên, tử ngoại và hồng ngoại; phân tích sợi vải ở phần lộ tự nhiên; đối chiếu đinh khung và hồ sơ bảo quản. Không lấy mẫu sơn nếu chưa có đồng thuận mới. Cảnh Hoài đọc từng dòng, rồi thêm một mục: mỗi dữ liệu tạo ra phải có hai bản, một lưu ở xưởng, một lưu trong kho chứng cứ độc lập. “Tôi tưởng anh không tin tôi.” “Tôi không tin một hệ thống chỉ có một điểm giữ sự thật.” Anh nói như một nguyên tắc nghề nghiệp, nhưng tôi biết nó cũng là câu trả lời cho chuyện năm năm trước.