Từ túi vải, ông lấy ra một phiếu giao nhận gấp làm tư. Giấy đã mềm ở các nếp, mực xanh nhòe một góc. Phiếu ghi ngày mười bảy tháng sáu, năm năm trước, giờ nhận mười chín giờ mười hai. Tên vật phẩm chỉ có mã B mười bảy. Người giao là Vũ Mặc. Ô người nhận để trống. “Vì sao không có chữ ký?” tôi hỏi. “Có.” Ông chỉ vào vùng giấy bị xé ở mép dưới. “Nhưng phần đó đã bị lấy đi.” “Ông giữ bản thiếu này suốt năm năm?” “Tôi giữ vì tối ấy có hai khung tranh giống nhau. Một chiếc của bức chân dung, một chiếc vốn chứa tấm bìa lót của phụ lục di chúc. Bà Hà không muốn để giấy tờ quan trọng trong két của quỹ. Bà giấu nó sau tấm lưng tranh, rồi yêu cầu tôi làm hai khung giống nhau để đánh lạc hướng trong lúc chuyển kho.” Tôi cố hình dung một người phụ nữ lớn tuổi biến khung tranh thành két giữ di chúc. “Ai biết việc đó?” “Bà Hà, tôi, thư ký riêng của bà và luật sư lập di chúc. Sau đó luật sư qua đời. Thư ký nghỉ việc.” “Còn ông?” “Tôi nhận tiền để im lặng.” Ông không né mắt. “Tôi nghĩ chỉ cần di chúc được công bố đúng lúc thì chẳng hại ai. Nhưng tối hôm đó, người của quỹ yêu cầu tôi đổi hai khung cho nhau. Họ nói bà Hà đổi ý.” “Ông có thấy văn bản ủy quyền không?” Cảnh Hoài hỏi. “Có một tờ lệnh, nhưng tôi chỉ nhìn phần cuối. Dấu của văn phòng luật, chữ ký giống của cậu.” Tôi quay sang Cảnh Hoài. Anh không phản ứng. “Giống, hay là của tôi?” “Lúc ấy tôi tin là của cậu.” “Bảy phút,” tôi nói, nhìn thời gian trên phiếu. “Khoảng trống trong camera giao nhận là bảy phút. Ông đổi khung trong lúc đó?” Vũ Mặc siết hai bàn tay. “Tôi tháo lưng khung thứ nhất, nhưng chưa kịp chuyển tấm bìa thì chuông báo cháy vang lên. Mọi người chạy ra hành lang. Khi quay lại, hai khung đã nằm ở hai xe khác nhau. Người phụ trách nói họ đã làm xong.” “Ông kiểm tra lại không?” “Không. Tôi sợ.”