“Nhưng nếu bức này chỉ được sửa để mang mã B mười bảy?” tôi hỏi. “Cô có bằng chứng không?” “Chưa.” “Vậy đừng lặp lại năm năm trước.” Hứa Tư Dung rời đi, để lại phụ lục trên bàn như một chiếc bẫy đã mở nắp. Tôi nhìn Cảnh Hoài. “Bà ấy muốn chúng ta chứng minh đúng thứ bà ấy cần.” “Hoặc muốn cô sợ đến mức không dám chứng minh gì.” “Tôi cần xác định niên đại lớp sơn che.” “Phải lấy mẫu?” “Một vi điểm ở vùng đã bong tự nhiên. Không làm mất hình ảnh, nhưng vẫn là can thiệp.” Cảnh Hoài gọi hội đồng xin phép. Hứa Tư Dung phản đối ngay, với lý do mẫu sẽ làm giảm giá trị tác phẩm. Hai bên tranh luận gần một ngày. Cuối cùng, hội đồng cho phép lấy đúng một mẫu nhỏ dưới sự chứng kiến của bốn người. Mẫu sơn mỏng hơn sợi tóc. Dưới kính hiển vi, cấu trúc lớp hiện rõ: nền cũ, màu xanh cũ, vecni già, một lớp cách ly mới, rồi màu nâu tạo chữ ký. Giữa lớp vecni và màu nâu có hạt bụi nhôm từ loại máy mài khung công nghiệp được quỹ đưa vào sử dụng bốn năm trước. Chữ ký giả được thêm sau vụ việc năm năm trước. Tôi vừa ghi kết luận thì hệ thống thư điện tử nội bộ báo có yêu cầu tạm đình chỉ tôi khỏi dự án. Tệp đính kèm là báo cáo cũ, đầy đủ chữ ký của tôi, cùng một bản khiếu nại mới nói tôi có xung đột cá nhân với Cảnh Hoài nên không bảo đảm độc lập. Tin đã đến hội đồng trước cả khi tôi đọc xong. Quản lý xưởng bước vào, mặt tái đi. “Nghi Lan, cô phải bàn giao thẻ phòng dữ liệu.” “Còn mẫu?” “Niêm phong tại chỗ.” “Dữ liệu vừa tạo?” “Sao lưu theo quy trình.” Tôi nhìn màn hình. Kết quả quan trọng nhất vừa xuất hiện, nhưng quyền tiếp cận của tôi đã bị khóa. Cảnh Hoài tiến đến bàn, đứng ở phía bên kia chứ không chắn trước mặt tôi. “Cô có quyền ghi ý kiến phản đối và yêu cầu một giám định viên độc lập tiếp quản.” “Tôi biết.” “Tôi sẽ nộp yêu cầu bảo toàn.” “Tôi cũng biết.” Anh dừng lại. “Cô muốn tôi làm gì?”