Người quản kho đặt hộp dưới máy quay, đọc mã và cắt dải theo đường đã đánh dấu. Bên trong là bản sao biên bản trước và sau khoảng trống camera, một đĩa lưu dữ liệu, ba ảnh in và phong bì màu xám. Tấm ảnh tôi cần nằm ở cuối cùng. Tôi nhận ra góc chụp ngay lập tức. Năm ấy, khi kiểm tra mặt sau khung, tôi đã đặt thước tỷ lệ cạnh một vết xước hình bán nguyệt. Trên ảnh, dây buộc ở góc khung là màu xám. Mép tấm bìa lưng có ba lỗ ghim xếp thành hình tam giác. Ở phía dưới, một mảnh nhãn chỉ còn chữ B và nửa nét của số tám. Không phải B mười bảy. Tôi cúi gần hơn nhưng giữ hai tay sau lưng. “Đây là khung B mười tám.” Cảnh Hoài hỏi người quản kho phóng lớn phần nhãn. Nét còn lại cong ở đỉnh và thắt giữa. Không thể là số bảy. “Vậy chiếc khung cô báo bị mở trái phép năm đó thuộc bức B mười tám,” anh nói. “Nhưng hồ sơ công khai đã ghi B mười bảy.” Người quản kho mở đĩa dữ liệu trên máy độc lập. Trong thư mục ảnh có tệp gốc, thời gian tạo là mười tám giờ năm mươi bốn. Bảy phút mất camera bắt đầu lúc mười chín giờ mười hai. Tấm ảnh được chụp trước khoảng trống. Sau khoảng trống, biên bản niêm phong lại ghi B mười bảy. Có người đã đổi mã trong chính thời gian hai chiếc khung rời khỏi camera. Tôi nhìn bản báo cáo cũ của mình. Ở phần mô tả vật thể, tôi đã ghi “khung của chân dung nữ, mã B mười bảy” dựa trên phiếu do quỹ cung cấp sau sự cố. Tôi không đối chiếu với tấm ảnh chính mình chụp. Tôi đã có bằng chứng đúng trong tay, nhưng để một nhãn hồ sơ dẫn mình đến kết luận sai. “Vì sao ảnh này không nằm trong bộ hồ sơ hội đồng nhận được?” tôi hỏi. Cảnh Hoài lấy phong bì xám. Bên trong là yêu cầu giữ kín danh tính người đã sao chép dữ liệu camera. Người ký là Mạnh Giai, thư ký riêng của bà Hà.