“Phong bì biến mất. Một tuần sau, giám đốc Hứa đưa cho hội đồng một phụ lục khác, nói được tìm thấy trong két.” “Cô có nhận ra nó không?” “Loại giấy giống nhau, nhưng dấu ghim khác. Bản mới có hai lỗ thẳng.” Ba lỗ hình tam giác trở thành dấu phân biệt giữa phụ lục gốc và bản thay thế. Mạnh Giai còn nhớ một điều. Trước khi qua đời, bà Hà từng yêu cầu mọi giấy tờ quan trọng phải được đóng dấu nổi ở góc trái. Bản phụ lục hiện hành trong hồ sơ chỉ có dấu mực phẳng. Cảnh Hoài xin lệnh kiểm tra bản giấy gốc đang lưu ở két của quỹ. Hứa Tư Dung phản đối, nói tài liệu đã được công chứng. Nhưng công chứng chỉ xác nhận bản sao khớp tài liệu được xuất trình, không xác nhận tài liệu ấy thực sự do bà Hà lập. Hội đồng cho phép kiểm tra dưới giám sát. Bản phụ lục hiện hành có hai lỗ ghim thẳng, không có dấu nổi, và sợi giấy chứa chất làm trắng quang học mới hơn loại giấy văn phòng Hà gia từng dùng. Chữ ký của bà Hà là thật, nhưng nằm trên một tờ giấy khác đã bị cắt và ghép vào phần nội dung mới bằng kỹ thuật in tinh vi. Chúng tôi đã chứng minh phụ lục hiện hành là tài liệu bị tạo lại. Nhưng phụ lục gốc vẫn mất tích. Không có nó, không ai biết ý chí cuối cùng của bà Hà thật sự giao bộ sưu tập cho ai, hoặc điều khoản về B mười bảy có tồn tại hay không. Hứa Tư Dung lập tức đổi chiến lược. Bà không còn khẳng định tài liệu hiện hành hoàn toàn hợp lệ. Bà nói một nhân viên đã tự ý phục dựng bản hỏng để “giữ nội dung”, và mọi người đang biến sai sót hành chính thành âm mưu. Cùng ngày, một bài viết ẩn danh xuất hiện trên mạng. Bài viết kể lại vụ tôi tố cáo sai Cảnh Hoài, kèm ảnh thẻ nghề nghiệp và gọi chúng tôi là “cặp đôi dựng bê bối để trả thù quỹ”. Trước cửa xưởng có người chờ chụp ảnh. Điện thoại tôi nhận hàng chục tin nhắn. Bảo tàng yêu cầu tôi tạm nghỉ cho đến khi điều tra kết thúc.