Căn phòng thứ hai không nằm trong đài. Cố Trầm Chu nghe ra điều đó từ tiếng còi phà. Buồng phụ ở tầng một quay mặt về phía bắc, trong khi tiếng còi trên băng vọng đến sau một khoảng trễ chỉ có thể xuất hiện ở bờ nam. Chúng tôi mang bản đồ Hải Lăng ba mươi năm trước ra trải trên sàn. Bến phà cũ, đài phát thanh và khu dân cư thấp tạo thành một tam giác. Ở giữa tam giác là phố may mặc đã bị phá gần hết để mở đường ven biển. Tôi gọi sáu số điện thoại từ danh bạ nhân chứng cũ. Bốn số không còn dùng. Một người từ chối ngay khi nghe tên Hứa Nhược Lam. Người cuối cùng là Từ Thư Dao, thợ may đã nghỉ hưu. Bà bảo chúng tôi đến sau ba giờ chiều, khi cháu ngoại đã đi học thêm. Căn hộ của bà nằm trên tầng sáu một khu nhà cũ không có thang máy. Trên cửa treo một túi ngải cứu khô. Trong phòng khách, máy may phủ vải hoa, bên cạnh là chiếc radio màu đỏ đã mất núm chỉnh sóng. Từ Thư Dao không mời chúng tôi uống trà. Bà đặt một băng cassette lên bàn. “Đêm bão đó con gái tôi mười tuổi,” bà nói. “Nó thích ghi chương trình phát thanh vào băng rồi chen giọng mình vào giữa. Sau này con bé qua đời vì bệnh. Tôi không muốn giọng nó bị đưa lên mạng.” Tôi không chạm vào cuộn băng. “Chúng tôi chỉ cần âm nền để so căn phòng. Nếu bà đồng ý, tôi sẽ tách phần không có lời của chị ấy. Bản sao làm xong sẽ mã hóa và chỉ dùng trong dự án này. Bà có thể đổi ý trước khi chúng tôi khóa kết quả.” “Cô nói nghe dễ lắm.” “Không dễ. Nếu bà đổi ý sau khi đoạn âm đã giúp chúng tôi tìm ra một nơi, tôi không thể làm như mình chưa từng biết nơi đó. Nhưng tôi có thể xóa bản sao và không công bố nguồn.” Bà nhìn tôi hồi lâu. “Hứa Nhược Lam nuôi cô, đúng không?” “Vâng.” “Vậy cô muốn cứu tên bà ấy hay muốn biết chuyện gì xảy ra?” Câu hỏi làm tôi khó chịu vì nó chính xác. “Tôi chưa chắc hai việc đó giống nhau.” Từ Thư Dao đẩy cuộn băng về phía tôi. “Nghe ở đây. Không mang đi.” Tôi lấy máy cassette nhỏ trong túi bảo quản, lau đầu đọc và nối dây vào máy tính. Cố Trầm Chu ngồi cách bàn một khoảng. Anh xin phép đặt bộ thu rung lên mặt gỗ. Bà Từ gật đầu. Băng bắt đầu bằng tiếng một đứa trẻ kể lại bữa cơm. Giọng nói trong, nhanh, có lúc cười đến hụt hơi. Tôi không nhìn Từ Thư Dao. Bà ngồi cạnh cửa sổ, hai tay đan trên đầu gối. Phút thứ mười bảy, chương trình đêm bão lọt vào nền. Giọng Hứa Nhược Lam xa như phát từ căn phòng bên cạnh. Một tiếng còi phà kéo dài. Sau đó có tiếng kéo cắt vải và bàn đạp máy may. Cố Trầm Chu đặt đầu ngón tay lên bộ thu rung. Anh chỉ vào màn hình. Nhịp dội của căn phòng trùng với lớp thứ hai. Tôi đánh dấu hai đoạn chỉ có tiếng mưa, còi phà và máy may. Không lấy lời đứa trẻ. Trước khi rời đi, tôi cho Từ Thư Dao xem chính xác phần đã sao chép. Bà nghe một lần rồi ký tên. Ở cửa, bà gọi tôi lại. “Đêm đó danh sách nơi trú thay đổi ba lần,” bà nói. “Người của khu phố đến bảo không được đọc vài địa chỉ. Chúng tôi không biết vì sao. Hứa Nhược Lam cãi nhau với họ qua điện thoại.” “Bà nghe thấy?” “Cả phố nghe trên radio. Rồi chương trình im mất một lúc.” “Sau đó thì sao?” “Sau đó bà ấy quay lại. Nhưng hồ sơ nhiều năm sau nói bà ấy bỏ đi.” Tôi hỏi người của khu phố là ai. Từ Thư Dao lắc đầu. Bà chỉ nhớ một giọng đàn ông và câu: nếu đọc ra, sáng mai sẽ có người không còn nhà để về. Trên đường xuống cầu thang, Cố Trầm Chu đi chậm hơn tôi. Đến tầng ba, anh dừng lại chỉnh máy trợ thính. “Có cần nghỉ không?” tôi hỏi. “Anh cần em nói bên phải.” Tôi đổi vị trí. Chúng tôi đi tiếp. Trong kho, tôi trộn phần âm nền được phép dùng với khoảng lặng trên cuộn băng. Hai lớp tiếng mưa triệt bớt nhau. Dưới phần còn lại, giọng Hứa Nhược Lam rõ thêm một câu: “Đừng đọc danh sách nơi trú.” Tôi nghe câu ấy ba lần. Lần thứ ba, giọng bà không còn giống người hoảng sợ. Nó thấp, dứt khoát và rất gần chiếc micro. Hứa Nhược Lam đã chủ động ngắt một phần chương trình. Tôi tựa lưng vào ghế. Một mẩu sự thật vừa trả lại cho bà quyền lựa chọn, đồng thời mở ra câu hỏi khó hơn: bà đang bảo vệ ai, và tại sao lại chấp nhận để mình mang tiếng bỏ vị trí? Cố Trầm Chu gõ lên mép bàn để tôi quay lại nhìn anh. “Em muốn dừng hôm nay không?” “Tôi muốn nghe tiếp.” “Đó không phải cùng một câu trả lời.” Tôi nhìn đồng hồ. Gần hai giờ sáng. Vai tôi cứng đến mức mỗi lần quay cổ đều đau. “Dừng,” tôi nói. Chúng tôi ra phố cảng ăn mì. Quán chỉ còn một bàn, nằm cạnh ô kính mờ hơi nước. Chủ quán nhận ra Cố Trầm Chu, đặt trước mặt anh một bát không rau mùi mà không cần hỏi. “Anh hay đến đây?” “Khi còn làm ở công trường gần bến.” “Bản báo cáo về đài cũ là của công ty anh sao?” Anh đặt đũa xuống. “Em đã tìm thấy?” “Tôi thấy tên công ty trong hồ sơ. Chưa thấy người ký.” Anh im lặng đủ lâu để tiếng nước sôi trong bếp trở nên rõ ràng. “Anh từng tham gia khảo sát,” anh nói. “Tám năm trước.” “Vậy anh biết buồng phụ?” “Không. Bản vẽ giao cho đội khảo sát không có nó.” “Tại sao anh không nói ngay?” “Vì anh chưa biết phần mình nhớ có giúp được em hay chỉ làm em nghi theo một hướng.” Tôi ghét cách anh biến sự im lặng thành một lựa chọn có vẻ cẩn trọng. “Anh đã nói tiếng vọng không nói dối.” “Anh không phải tiếng vọng.” Chủ quán mang hai cốc nước nóng đến. Cuộc đối thoại đứt ra, nhưng không biến mất. Cố Trầm Chu tháo máy trợ thính, đặt cạnh bát. “Anh cũng cần nói một việc trước khi em tiếp tục xem anh như thiết bị giải mã.” Tôi đặt đũa xuống. “Thính lực của anh đang giảm. Không đều, nhưng không đảo ngược. Có ngày anh nghe dải thấp rõ, có ngày mọi thứ chỉ như qua một lớp kính. Bản đồ tiếng vọng là công việc anh biết làm, không phải phép màu. Nếu dùng tai quá lâu, anh đau và mất tập trung. Anh sẽ tự quyết lúc nào dừng.” Tôi nhớ những lần mình phát lại cùng một đoạn mà không hỏi anh có muốn tiếp tục. Tôi đã nghĩ vì anh ngồi đó nên anh đồng ý. “Tôi xin lỗi.” Anh nhìn tôi, chờ phần sau. “Tôi đã dùng khả năng của anh như thể nó luôn sẵn sàng cho công việc. Từ giờ anh muốn hỗ trợ thế nào?” “Phụ đề trực tiếp. Bản đồ hình ảnh trước khi nghe. Mỗi phiên không quá bốn mươi phút.” “Và nếu tôi quên?” “Anh sẽ nhắc một lần. Sau đó anh rời phòng.” “Được.” Tôi chỉ vào máy trợ thính. “Anh có muốn tôi nói chậm hơn không?” “Không mặc định. Chỉ cần nhìn anh khi nói.” Anh đeo máy lại. Câu chuyện về báo cáo vẫn nằm giữa hai bát mì, nhưng lần đầu tiên chúng tôi có một cách làm việc không dựa vào việc người này đoán nhu cầu của người kia. Ngày thứ tư, tôi phát hiện lớp giấy ở đáy hộp băng dày bất thường. Khi nhấc lên, một nhãn cũ dính ở mặt dưới hiện ra. Trên đó viết bằng mực xanh: “Số không. Không phát.” Cuộn trong hộp hiện tại mang số một. Tôi lục sổ nhập kho. Không có cuộn số không. Danh sách tiếp nhận chỉ ghi “một bản chương trình đêm bão”, không ghi bản gốc hay bản dựng. La Hạo Nhiên nghe tôi trình bày rồi đóng sổ. “Không có trong danh mục thì không tồn tại trong kho.” “Có nhãn. Có dấu keo. Bản số một đã bị dựng.” “Cô đang suy ra một hiện vật mất tích từ một mẩu giấy.” “Ông cho tôi kiểm hộp linh kiện chuyển từ đài về.” “Không.” “Tại sao?” “Vì bảo hiểm chỉ cho phép cô xử lý vật đã được giao. Mỗi lần mở thêm một thùng, chúng ta tăng rủi ro mất mát. Tôi không chịu trách nhiệm cho cuộc điều tra cá nhân của cô.” “Tôi không điều tra danh dự của mẹ nuôi. Tôi đang xác định nguồn gốc hiện vật.” Ông nhìn tôi qua kính. “Cô có thể gọi nó bằng tên nghề nghiệp nào tùy thích. Hạn chuyển kho còn tám ngày.” Ông khóa phòng phụ kiện và giữ chìa khóa. Buổi chiều, Cố Trầm Chu mang bản vẽ cũ đến. Anh trải nó trên bàn ngoài vạch vàng. Góc phải có con dấu công ty tư vấn âm học tám năm trước. Dưới phần kết luận là chữ ký của anh. Cố Trầm Chu xác nhận công trình không còn giá trị âm học đặc biệt, đề nghị tháo vật liệu cách âm trước khi cải tạo. Tôi đọc từng chữ, thấy lòng mình lạnh dần. “Anh nói không biết buồng phụ.” “Đúng.” “Anh ký xác nhận cả tòa nhà.” “Đúng.” “Dựa trên bản vẽ thiếu.” Anh gật đầu. “Anh biết bản vẽ có thể thiếu từ lúc nào?” “Sau khi ký hai tháng. Tôi tìm thấy số đo cũ của cha. Có một dải phản hồi không khớp mặt bằng.” “Và anh làm gì?” “Gửi một thư yêu cầu kiểm tra lại. Công ty nói dự án đã đóng. Tôi không theo đến cùng.” Tôi nhìn chữ ký. “Cha anh liên quan đến đài?” “Ông phụ trách âm học khi đài xây. Sau cơn bão, ông nghỉ việc. Hộp tài liệu của ông vẫn ở nhà tôi.” “Anh biết tất cả những điều này trước khi bước vào phòng nghe của tôi.” “Anh biết có một số đo lệch. Anh không biết về cuộn băng.” “Nhưng anh để tôi tin anh chỉ là người đo phòng.” “Anh không muốn quá khứ của cha biến mọi âm thanh thành bằng chứng chống lại ông.” Tôi đứng dậy. Ghế va vào tủ phát ra tiếng sắc. “Vậy anh bảo vệ quyền được im lặng của người chết, còn tôi thì không cần quyền biết mình đang làm việc với ai?” Anh không trả lời ngay. Trên màn hình phụ, phần mềm biến tiếng quạt thành những dòng chữ vô nghĩa. “Em có quyền biết,” anh nói. “Anh đã trì hoãn vì sợ em loại anh khỏi công việc.” “Đó là quyết định của tôi.” “Anh biết.” “Không. Nếu biết, anh đã nói.” Tôi tắt máy. Phiên làm việc chưa đủ bốn mươi phút, nhưng đã kết thúc. Anh thu thiết bị, không xin tôi tha thứ, không giải thích thêm. Trước khi đi, anh đặt bản sao báo cáo lên bàn. “Bản gốc ở văn phòng thành phố,” anh nói. “Em không cần đi qua anh để kiểm.” Cửa khép lại. Tôi ở một mình với chữ ký của anh và giọng Hứa Nhược Lam trong tai nghe. Tối đó, tôi ghép ba lớp âm thanh theo đúng căn phòng đã xác định. Khoảng lặng mở ra thêm vài giây. Có tiếng lật giấy, tiếng một người đàn ông nói quá xa để hiểu, rồi giọng Hứa Nhược Lam: “Nếu đọc tên họ, sáng mai người ta sẽ đến.” Sau đó là một cú cắt. Tôi không biết “họ” là ai. Tôi cũng không biết ai đã cắt. Nhưng lần đầu tiên, câu chuyện chính thức về người phát thanh viên bỏ vị trí hiện ra đúng bản chất của nó: không phải một bản ghi nguyên vẹn, mà là một bản dựng từ nhiều căn phòng. Điểm giữa của vụ việc không cho tôi một đáp án. Nó lấy đi đáp án dễ nhất. Ngày thứ năm, Cố Trầm Chu không đến. Anh gửi bản đồ tần số qua thư điện tử, kèm một câu: anh sẽ không truy cập phòng nghe nếu tôi chưa mời lại. Tôi đọc tin nhắn nhiều lần. Phần giận dữ trong tôi muốn anh xuất hiện để tôi có thể từ chối trước mặt. Phần tỉnh táo hiểu anh đang làm điều tôi đã yêu cầu: trả quyền quyết định về cho tôi. Tôi không trả lời. Thay vào đó, tôi đến văn phòng thành phố xem báo cáo gốc. Phụ lục bị thiếu một trang. Số thứ tự nhảy từ mười bảy sang mười chín. Ở lề trang mười chín có nét bút chì của một người thuận tay trái: “Kiểm lại buồng sau tường.” Cố Trầm Chu thuận tay phải. Cha anh, trong bức ảnh công trình đính kèm hồ sơ, cầm thước bằng tay trái. Tôi chụp lại trang giấy theo quy định, ký sổ và trở về kho trước khi trời tối. La Hạo Nhiên đang chờ ở cửa phòng nghe. “Cô đã đưa người ngoài vào đài bỏ hoang,” ông nói. “Ban quản lý nhận được yêu cầu hoãn tháo dỡ với lý do có không gian âm học chưa khảo sát.” “Tôi chưa gửi yêu cầu nào.” “Cố Trầm Chu gửi. Có tên dự án của cô trong phụ lục.” Tôi nhìn điện thoại. Không có tin nhắn báo trước. “Quyền truy cập phòng nghe của cô tạm đình chỉ đến sáng mai,” La Hạo Nhiên nói. “Tôi đã cảnh báo cô.” Cánh cửa khóa lại trước mặt tôi. Cố Trầm Chu đã bảo vệ tòa nhà. Anh cũng vừa quyết định thay tôi lần thứ hai. Tôi gọi cho anh. Khi anh bắt máy, tôi không nói chào. “Anh lấy quyền gì ghi tên dự án của tôi?” “Không có quyền. Anh đã sai.” Câu thừa nhận đến quá nhanh, làm phần lời tôi chuẩn bị mắc lại. “Anh nghĩ nói sai là xong sao?” “Không.” “Anh làm tôi mất quyền truy cập trong lúc chỉ còn bảy ngày.” “Anh sẽ gửi đính chính, nhận toàn bộ trách nhiệm.” “Đó vẫn là anh tự chọn cách sửa.” Đầu dây bên kia yên lặng. Rồi anh hỏi: “Em muốn anh làm gì?” “Tối nay không làm gì cả. Đừng gọi lại. Sáng mai tôi sẽ nói sau.” “Được.” Anh cúp máy. Tôi ngồi trên bậc thềm kho đến khi đèn hành lang tắt. Ngoài sân, mưa mới chỉ là những hạt nhỏ. Tôi từng nghĩ người làm thay mình vì lo lắng là kiểu dịu dàng đáng tin. Đêm đó, tôi hiểu nó vẫn có thể là một cách tước mất tiếng nói, dù bàn tay làm việc ấy không hề có ý xấu. Nhưng khi cơn giận lắng xuống, một câu hỏi khác hiện ra. Tôi đã tôn trọng lựa chọn của anh đến đâu? Tôi từng phát lại những dải âm gây đau chỉ vì anh chưa đứng lên. Tôi từng nhìn tình trạng thính lực của anh như một chìa khóa mở căn phòng. Anh đã dùng công việc của tôi để chuộc lỗi quá khứ. Tôi cũng đã dùng cơ thể anh để đuổi theo quá khứ của mình. Không ai trong hai chúng tôi có quyền đứng ở vị trí vô tội. Tôi mở máy tính, lập một bảng mới. Không phải bảng âm thanh. Đó là cách chúng tôi sẽ làm việc nếu còn tiếp tục: thời lượng mỗi phiên, hình thức hỗ trợ, quyền dừng, quyền sử dụng tên dự án, việc nào cần đồng ý bằng văn bản. Dòng cuối cùng tôi viết: không ai được bảo vệ người kia bằng cách giấu thông tin có thể thay đổi lựa chọn. Sáng hôm sau, tôi gửi bảng cho anh. Năm phút sau, anh trả lại với một bổ sung: cả hai có quyền rời dự án mà không bị coi là phản bội. Tôi đọc dòng ấy, rồi nhắn địa chỉ quán cà phê đối diện kho. “Chín giờ. Chúng ta nói chuyện.” Bảy ngày còn lại.