Đêm cơn bão đổi hướng, tôi đứng trong phòng phát của đài cũ, hai tay giữ cuộn băng số không trên chiếc máy đã mở nắp. Ngoài cửa kính, mưa chạy ngang như những sợi dây bị kéo căng. Trạm phát hiện đại đã mất đường truyền. Khu dân cư thấp chỉ còn mười bảy phút trước khi cống tràn, còn lõi dẫn trong máy dự phòng đã cháy đen. Cuộn băng trước mặt tôi có lớp kim loại vừa đúng kích thước. Nếu tháo nó ra làm cầu dẫn, máy phát có thể sống lại. Cũng có thể phần âm thanh cuối cùng của Hứa Nhược Lam sẽ bị xóa vĩnh viễn. Cố Trầm Chu đứng bên bàn tín hiệu. Anh không đeo máy trợ thính. Áp suất và tiếng sấm khiến đôi tai vốn đã mệt của anh chỉ còn nhận được những rung động thấp. Anh nhìn tay tôi thay vì nhìn môi, chờ ký hiệu đã thống nhất. Tôi gõ hai nhịp lên mặt bàn: tôi sẽ quyết định. Anh gõ lại một nhịp: tôi hiểu. Rồi anh nói, chậm và rõ: “Anh không cần nghe hết để tin lựa chọn của em.” Tôi đặt ngón tay lên chốt máy. Mười hai ngày trước, tôi vẫn tin việc quan trọng nhất đời mình là giữ lại một giọng nói đã mất. Đến lúc ấy, tôi mới biết ký ức cũng có thể đòi một cái giá mà người đang sống không nên trả. Ở Hải Lăng, người ta đo mùa bão bằng những tấm ván đóng lên cửa kính. Tôi đo nó bằng độ ẩm trong kho và tốc độ lớp từ tính bong khỏi một cuộn băng đã ba mươi năm tuổi. Sáng hôm đó, máy đo độ ẩm báo tám mươi ba phần trăm. Một con số đủ khiến những cuộn băng cũ dính vào nhau như lá trà ướt. Tôi đang tháo lớp giấy lót khỏi hộp lưu trữ thì La Hạo Nhiên đặt lệnh chuyển kho xuống bàn. “Mười hai ngày nữa xe đến,” ông nói. “Những gì chưa xử lý xong sẽ niêm phong nguyên trạng.” Tôi nhìn con dấu đỏ cuối trang. Kho âm thanh Hải Lăng sắp chuyển về trung tâm tư liệu mới ở phía tây thành phố. Tòa nhà mới có máy điều hòa ổn định, kệ chống cháy và hệ thống quản lý bằng mã. Nó cũng không có phòng phục chế băng từ. Những vật chưa được số hóa sẽ bị đóng kín cho đến khi có ngân sách, mà ở Hải Lăng, “đợi ngân sách” thường có nghĩa là đợi đến khi không còn gì để cứu.