Ba tháng sau bão, khu vườn nghe phía sau kho mở cửa. Những ống kim loại treo giữa cây biến gió thành các cao độ khác nhau. Trẻ con chạy qua làm chuông rung. Người lớn ngồi trên ghế cảm độ rung truyền qua sàn gỗ. Không ai phải nghe giống nhau để cùng ở trong một không gian. Tôi và Cố Trầm Chu ngồi cạnh nhau dưới mái kính. Anh tháo máy trợ thính, đặt lên khăn tay. Tôi không hỏi anh có nghe tiếng mưa không. Anh dùng ký hiệu còn chậm hơn tôi để nói: “Anh có một câu hỏi.” Tôi đáp bằng tay: “Hỏi đi.” “Em có muốn cùng anh học một ngôn ngữ không phụ thuộc vào việc nghe đủ không?” Tôi nhìn đôi tay anh. Câu hỏi ấy không đòi tôi hứa sẽ luôn ở cạnh, không biến tình trạng của anh thành phép thử tận tâm, cũng không dùng những ngày chúng tôi làm việc chung như món nợ. “Tôi muốn,” tôi nói thành tiếng, rồi lặp lại bằng ký hiệu. “Nhưng sẽ có những ngày tôi chỉ muốn ở một mình trong phòng máy.” Anh gật đầu. “Sẽ có những ngày anh không muốn giải thích mình nghe được bao nhiêu.” “Vậy chúng ta hỏi khi cần, và tin câu trả lời.” “Được.” Bản ghi đầu tiên của Phòng nghe cộng đồng chỉ dài một phút. Tiếng tàu đêm đi qua phía xa. Tiếng mưa nhẹ chạm mái kính. Tiếng trẻ con chạy trên sàn gỗ. Sau đó là hai nhịp gõ của tôi trên mặt bàn, rồi một nhịp đáp lại của anh. Tôi đặt tên tệp bằng ngày tháng. Không đặt tên Hứa Nhược Lam. Không gọi đó là âm thanh cuối cùng của bất kỳ ai. Bởi âm thanh cuối cùng đáng giữ không nhất thiết thuộc về người đã mất. Đôi khi, nó chỉ là khoảnh khắc hai người đang sống xác nhận rằng mình đã nghe nhau.