Nửa đêm, mưa quất trắng những ô kính của ga Hàng Châu Đông. Tôi đứng sau quầy hành lý thất lạc, một tay giữ chiếc vali xanh rêu, tay kia giữ tờ biên nhận có tên người cha đã biến mất mười bảy năm của mình. Người đàn ông trước mặt đẩy giấy ủy quyền về phía tôi. “Cô đã kiểm tra đủ rồi. Giao vali cho tôi.” Giấy thật. Mã hồ sơ thật. Con dấu cũng thật. Chỉ có một việc không thật: ông ta xoay ba vòng số trên ổ khóa rồi chờ nó bật mở, trong khi chiếc khóa ấy đã hỏng từ trước ngày cha tôi rời nhà. Tôi kéo vali về phía mình. “Xin lỗi. Vật này cần được kiểm tra lại.” Người đàn ông đổi sắc mặt. Đúng lúc ấy, Giang Tự Hành bước qua cửa quầy. Anh không nhìn tờ giấy. Anh cúi xuống, lật nhẹ đáy vali và chạm vào vết xước hình cánh chim bị lớp bụi che gần hết. “Cô vẫn chưa mất nó,” anh nói. Đó là câu đầu tiên trong lá thư cuối của cha tôi. Lá thư mà suốt mười bảy năm, tôi đã nói với mẹ rằng nó chưa từng tồn tại. Ngoài đường ray, một đoàn tàu chuyển bánh. Tiếng kim loại nghiến qua chỗ đổi ray nghe như cánh cửa quá khứ vừa bị ai đó kéo bật ra. Tôi nhìn Giang Tự Hành, rồi nhìn chiếc vali, không biết thứ nào nguy hiểm hơn. Khi nắp vali được mở dưới máy ghi hình nghiệp vụ, bên trong chỉ có một chiếc áo khoác cũ, bốn khe trống và một tấm vé giấy. Ô điểm đến hoàn toàn trắng. Ở mặt sau, tên tôi được viết bằng nét chữ của cha. Mười hai giờ trước, ca trực của tôi bắt đầu bằng một chiếc vali màu đỏ và hai người cùng nhận mình là chủ. Người thứ nhất là một phụ nữ trẻ, nói nhanh đến mức đồng nghiệp mới của tôi không chen vào được. Người thứ hai là một bà cụ tóc bạc, cứ nắm chặt quai túi vải và xin chúng tôi tìm lại giúp chiếc khăn choàng ở bên trong. Cả hai đều biết nhãn hiệu vali. Cả hai đều nói đúng chuyến tàu. Người phụ nữ trẻ còn đưa ra ảnh chụp một chiếc vali gần giống hệt. Tôi hỏi: “Ở mặt trong tay kéo có gì?” Người phụ nữ trẻ đáp ngay: “Một nhãn da màu nâu.” Bà cụ lắc đầu. “Không có nhãn. Con trai tôi quấn chỉ xanh quanh đó vì tay tôi hay trượt.” Tôi đeo găng, kéo tay cầm lên. Một vòng chỉ xanh đã sờn hiện ra. Người phụ nữ trẻ im bặt. Bà cụ nhận lại vali, mở khóa rồi lấy chiếc khăn choàng có đường viền do chính bà thêu. Trước khi đi, bà nắm tay tôi, cười bảo người trẻ bây giờ nhìn giỏi hơn máy. Tôi không kể rằng máy móc chưa bao giờ là vấn đề chính. Đồ thất lạc mang theo thói quen của người dùng. Một vết vá, mùi thuốc, sợi chỉ buộc vội hay góc nhãn bị bóc đều trung thực hơn lời khẳng định. Công việc của tôi là lắng nghe những dấu vết không biết nói. Đến cuối giờ chiều, nhân viên kho đẩy ra một kiện mới. Chiếc vali xanh rêu nằm trên xe hàng, cũ đến mức lạc hẳn giữa những vỏ nhựa bóng loáng. “Chị Minh Ý, cái này kỳ lắm,” cậu đồng nghiệp nói. “Không có thông tin chuyến tàu. Chỉ có mã hồ sơ chuyển tiếp từ kho dự án ga Thanh Phổ.” Ga Thanh Phổ đã ngừng đón khách từ nhiều năm trước. Một quỹ văn hóa đang phục hồi tòa nhà cũ bên sông để làm không gian lưu trữ ký ức đường sắt. Những đồ vật ở đó không thể tự nhiên xuất hiện trong luồng hành lý của ga Đông. Tôi quét mã nhận hành lý. Màn hình hiện một hồ sơ vừa được kích hoạt lúc chín giờ sáng. Dòng tên chủ sở hữu làm đầu ngón tay tôi lạnh đi. Tạ Cảnh Sơn. Cha tôi. Tôi đọc lại ba lần. Ngày sinh đúng. Số giấy tờ cũ đúng. Địa chỉ là căn nhà tập thể nơi tôi sống đến năm mười hai tuổi. Tình trạng hồ sơ ghi “chờ người thừa kế hợp pháp nhận lại”. Cậu đồng nghiệp nhìn tôi. “Có phải người nhà chị không?” Tôi tháo găng, rồi lại đeo vào. “Đưa vào khu kiểm soát. Chưa được mở. Gọi bộ phận an ninh xác minh nguồn chuyển.” Giọng tôi bình tĩnh hơn bàn tay. Suốt mười bảy năm, tôi đã tưởng tượng hàng trăm lần về ngày cha trở về. Trong những tưởng tượng ấy, có lúc ông già đi, có lúc ông bị mất trí nhớ, có lúc ông đứng ngoài cửa tiệm của mẹ và không dám bước vào. Chưa lần nào ông trở về dưới hình dạng một chiếc vali phủ bụi. Mẹ vẫn giữ một ngăn tủ trống cho cha đến năm tôi vào đại học. Sau đó bà nhét vải vụn vào ngăn ấy, nhưng không vứt chiếc chìa khóa. Tôi từng ghét cái ngăn tủ hơn ghét người đã bỏ đi. Một khoảng trống được giữ sạch sẽ có thể chiếm nhiều chỗ hơn bất kỳ món đồ nào. Bộ phận an ninh trả lời rằng kiện hàng đi qua một nhà thầu vận chuyển hợp lệ của dự án Thanh Phổ. Hồ sơ kèm đủ chữ ký điện tử. Người phụ trách dự án sẽ tới đối chiếu trước bảy giờ tối. Người tới là Giang Tự Hành. Anh mặc áo khoác xanh than còn đọng nước mưa, cầm một ống bản vẽ trơn và một tập biên bản. Anh dừng cách quầy hai bước, nhìn chiếc vali trong phòng kính rồi mới giới thiệu. “Tôi phụ trách phần phục hồi kiến trúc ga Thanh Phổ.” “Tại sao hiện vật trong kho dự án lại được đưa vào hệ thống hành lý thất lạc?” “Tôi cũng đang tìm câu trả lời.” “Tên anh có trên biên bản xuất kho.” “Chữ ký xác nhận hiện vật rời kho là của tôi. Phiếu chuyển đến ga Đông không phải.” Anh nói không nhanh, không né mắt. Kiểu bình tĩnh ấy khiến người đối diện khó biết anh đang thành thật hay chỉ đã chuẩn bị kỹ. Tôi đặt biên bản lên quầy. “Anh biết chủ vali?” “Biết.” “Quan hệ?” “Ông ấy từng giúp tôi đưa ra một quyết định.” “Quyết định gì?” Giang Tự Hành nhìn tôi vài giây. “Câu đó thuộc về phần đời của tôi. Nếu cô muốn biết vì nó liên quan đến chiếc vali, tôi sẽ nói khi chúng ta có đủ căn cứ. Nếu cô chỉ muốn biết vì tò mò, tôi xin giữ lại.” Tôi gần như bật cười. Một người đến quầy của tôi, mang theo bí mật về cha tôi, rồi phân loại câu hỏi của tôi như phân loại hồ sơ. “Anh không có quyền đặt điều kiện.” “Đúng. Vì vậy tôi không yêu cầu cô giao chiếc vali.” Anh đẩy tập biên bản qua khe kính. Trong đó là danh mục hiện vật của kho Thanh Phổ. Chiếc vali có số lưu trữ cũ, ảnh chụp cách đây mười năm và ghi chú: chỉ bàn giao khi người có tên trong hồ sơ chủ động yêu cầu đối chiếu. Người có tên là tôi. “Tôi chưa từng yêu cầu.” “Cho nên có người đã làm thay cô.” Câu trả lời ấy làm tôi chú ý. Anh không nói người đó giúp tôi, cũng không nói họ có ý tốt. Anh chỉ xác định một ranh giới đã bị vượt qua. Tôi hỏi: “Anh biết ai không?” “Chưa có bằng chứng.” “Còn điều gì anh biết nhưng chưa nói?” “Có.” “Anh thành thật thật đấy.” “Thành thật một nửa vẫn là một kiểu giấu giếm. Tôi không muốn đổi tên cho nó.” Tôi nhìn lại bức ảnh trong danh mục. Chiếc vali mười năm trước có đúng vết xước hình cánh chim ở đáy. Khóa số đã lệch khỏi khung. Trên quai có một đường chỉ màu hổ phách. Mẹ từng dùng loại chỉ đó để gia cố mọi thứ, từ cổ tay áo của tôi đến túi đựng cơm của cha. “Vì sao anh giữ nó mười năm?” “Tôi không giữ cho mình. Tôi quản lý nơi nó được gửi lại.” “Khác nhau ở đâu?” “Nếu cô yêu cầu dừng ở đây, nó sẽ trở về kho và không ai mở. Nếu tôi giữ cho mình, cô sẽ không có lựa chọn ấy.” Tôi ghét việc câu trả lời của anh hợp lý. Chúng tôi chưa nói thêm thì một người đàn ông mặc áo mưa bước tới. Ông ta tự giới thiệu là nhân viên được Lương Khả Nghi, giám đốc truyền thông của doanh nghiệp tài trợ, ủy quyền nhận hiện vật. Giấy tờ ông ta đưa ra khớp với hồ sơ trên hệ thống. Mọi việc sau đó diễn ra đúng như đoạn mở đầu của đêm ấy, chỉ khác rằng khi sống trong nó, tôi không có thời gian để nghe tiếng nhạc báo hiệu nguy hiểm như trong phim. Tôi kiểm tra con dấu. Tôi gọi số xác minh. Tôi đối chiếu giấy tờ tùy thân. Tất cả đều đúng. Người đàn ông gõ ngón tay lên quầy. “Dự án cần hiện vật cho buổi chụp ngày mai. Cô Lương đã thỏa thuận với đơn vị quản lý ga cũ.” “Tôi cần xác minh quyền sở hữu, không chỉ quyền vận chuyển.” “Trong hồ sơ ghi người thừa kế chưa nhận. Hiện vật đang thuộc danh mục dự án.” “Danh mục lưu trữ không tự tạo quyền sở hữu.” Ông ta nghiêng người về phía tôi. “Cô đang làm khó một dự án văn hóa chỉ vì trùng tên với người nhà sao?” Tôi đặt chiếc vali lên bàn kiểm tra. Ổ khóa ba số nằm nghiêng. Tôi hỏi ông ta cách mở. Ông ta đọc một dãy số có trong phiếu bàn giao và xoay từng vòng rất thành thạo. Khóa không nhúc nhích. Tôi cúi xuống. Một lớp bụi mỏng phủ mép kim loại, nhưng quanh số cuối có dấu lau mới. Tôi dùng bút chì nghiệp vụ miết nhẹ lên mặt sau tờ phiếu. Dưới số bảy in đậm hiện bóng hằn của số một. Ai đó đã sửa số cuối sau khi tờ giấy được ký. Tôi khóa hồ sơ trên hệ thống. “Giấy nhận có dấu hiệu bị thay đổi. Vali sẽ được giữ để kiểm tra.” Người đàn ông chộp lấy tay kéo. Giang Tự Hành bước lên nhưng không chạm vào ông ta. Anh chỉ nói: “Máy ghi hình đang hoạt động. Nếu ông kéo thêm lần nữa, hành động sẽ không còn là yêu cầu bàn giao.” Người đàn ông buông tay. Trước khi đi, ông ta nói Lương Khả Nghi sẽ trực tiếp làm việc với chúng tôi. Tôi không quan tâm lời đe dọa. Tôi quan tâm việc Giang Tự Hành vừa cúi xuống đáy vali và tìm đúng vết xước giữa lớp bụi. “Anh đã mở nó trước đây?” “Chưa.” “Vậy vì sao biết vết xước?” “Cảnh Sơn từng nói nếu chiếc vali đến tay cô, hãy nhìn dưới đáy trước khi nhìn vào trong.” Anh dùng tên cha tôi như thể họ vừa gặp nhau hôm qua. “Từ bao giờ anh được gọi cha tôi như vậy?” “Từ lúc ông ấy bảo tôi đừng gọi mình là chú Cảnh Sơn nữa.” Chỉ một chữ họ bật ra trong câu nói ấy cũng làm tôi khó chịu. Nhưng trước khi tôi kịp hỏi tiếp, Giang Tự Hành nhìn thẳng vào tôi. “Ông ấy còn nói, nếu cô vẫn chưa mất thứ đó, cô sẽ biết phải làm gì.” Tôi nghe lại câu đầu của lá thư trong đầu. Minh Ý, nếu con vẫn chưa làm mất lòng tin vào lựa chọn của chính mình, đừng để bất kỳ ai đọc phần còn lại thay con. Năm mười hai tuổi, tôi đã đọc câu ấy dưới ánh đèn bếp. Rồi tôi nhìn mẹ ngồi bên cửa sổ, vá chiếc áo cha để quên, và quyết định giấu lá thư. Tôi nghĩ mình đang bảo vệ bà khỏi câu kế tiếp: Đừng chờ cha. Tôi nói dối rằng người đưa thư nhầm địa chỉ. Mẹ tin tôi. Mười bảy năm sau, một người xa lạ lặp lại ý trong thư ngay giữa ga tàu. Bí mật tôi chôn dưới lớp vải lót của hộp kim chỉ đột nhiên có thêm một nhân chứng. Tôi yêu cầu mở vali theo quy trình vật chứng có tranh chấp. Có nhân viên an ninh, một đồng nghiệp và Giang Tự Hành chứng kiến. Máy ghi hình bắt đầu chạy. Tôi cắt niêm phong mới của nhà thầu, không đụng vào dải vải buộc cũ. Ổ khóa không cần mã. Chỉ cần ấn lệch sang trái, lẫy gãy sẽ bật ra. Tôi biết vì hồi nhỏ chính tôi làm nó hỏng, sau một lần nhốt con mèo của khu tập thể vào vali rồi hoảng hốt không mở được. Cha đã tháo lẫy, cười bảo từ nay chiếc vali này chỉ khóa được người không biết bí mật. Nắp bật lên. Mùi vải cũ và gỗ ẩm thoát ra, không giống mùi của một người, chỉ giống một căn phòng đóng quá lâu. Bên trong có chiếc áo khoác xám, được gấp ngay ngắn. Lớp lót đáy may bốn khe dài, cả bốn đều trống. Trên áo là một tấm vé giấy đã ngả vàng. Mặt trước có ngày nhưng không có năm. Ô nơi đi ghi ga Thanh Phổ. Ô điểm đến bỏ trắng. Mặt sau là ba chữ Tạ Minh Ý, nét bút hơi nghiêng mà tôi từng nhìn thấy trên từng tờ đơn xin nghỉ học cha viết hộ. Không có lời nhắn. Không có địa chỉ. Không có câu trả lời nào đủ lớn cho mười bảy năm. Tôi bật cười một tiếng khô khốc. “Ông ấy để lại cho tôi một tấm vé không biết đi đâu.” Giang Tự Hành đứng ngoài vạch kiểm tra. “Có thể điểm đến không phải phần dành cho ông ấy viết.” “Anh biết ý nghĩa của nó.” “Tôi biết một phần.” “Lại một nửa sự thật?” “Lần này là phần tôi có quyền kể.” Tôi tháo găng, quay sang nhân viên an ninh. “Lập biên bản toàn bộ vật bên trong. Tấm vé cho vào túi chứng cứ riêng. Sáng mai tôi gửi đề nghị phối hợp chính thức đến dự án Thanh Phổ.” Giang Tự Hành hỏi: “Cô chắc muốn tiếp tục?” “Tôi chắc không muốn ai tiếp tục thay tôi.” Đó là lần đầu tiên trong đêm, anh mỉm cười. Không phải nụ cười nhẹ nhõm. Nó giống phản ứng của một người vừa nghe đúng mật khẩu sau nhiều năm chờ đợi. Sáng hôm sau, ga Thanh Phổ nằm im bên một nhánh sông đục màu mưa. Tòa nhà gạch xám không còn bảng điện tử hay tiếng loa. Chỉ có mùi vôi mới, tiếng búa từ mái phía đông và tiếng nước chảy qua những chân cầu cũ. Giang Tự Hành đưa tôi một chiếc mũ bảo hộ. “Phần sàn giữa phòng chờ đang tháo. Đi sát vạch vàng.” “Tôi tưởng kỹ sư phục hồi chỉ ngồi với bản vẽ.” “Nếu chỉ ngồi, tôi sẽ vẽ một nơi không còn đứng được.” Anh dẫn tôi qua phòng chờ cũ. Những hàng ghế gỗ đã được đánh số bằng thẻ rời, không viết trực tiếp lên bề mặt. Một nhóm thợ đang tháo từng tấm trần, đặt xuống đệm mềm. Giang Tự Hành dừng lại giải thích một vết nứt bằng lời rất đơn giản: nếu mưa ngấm thêm một mùa, góc mái sẽ đè xuống hàng ghế. Không có bài giảng nào về kỹ thuật. Chỉ có việc gì có thể mất nếu họ làm sai. Kho lưu trữ nằm sau phòng bán vé cũ. Hứa Bội San đợi chúng tôi ở đó. Bà có gương mặt nhỏ, tóc cắt ngắn và hai bàn tay cứ siết vào nhau. “Tôi đã thôi việc nhiều năm,” bà nói ngay. “Hồ sơ cũ không còn thuộc trách nhiệm của tôi.” “Tôi không hỏi trách nhiệm hiện tại,” tôi đáp. “Tôi cần biết chiếc vali được đưa vào kho thế nào.” Bội San nhìn Giang Tự Hành. Anh nói: “Cô Minh Ý là người có tên trong biên bản. Cô ấy quyết định câu hỏi.” Bội San mở một tủ kim loại. Bà lấy ra cuốn sổ bìa nâu, lật đến phần đồ vô chủ của năm đó. Một trang đã bị xé sát gáy. Trang sau ghi số lưu kho của vali, nhưng con số cuối bị viết đè. Tôi đặt ảnh phiếu nhận giả bên cạnh. Cùng một chỗ sửa. Cùng cách kéo nét số một thành số bảy. “Ai sửa?” Bội San che tay lên mép trang. “Ngày ấy kho rất loạn. Ga sắp đóng. Đồ chuyển đi nhiều nơi.” “Bà vừa che đúng vị trí bị xé trước khi tôi chỉ vào.” Bà rụt tay lại. “Tôi không nhớ.” “Bà nhớ. Bà chỉ chưa quyết định có nói hay không.” Giang Tự Hành không thúc ép. Anh đặt một chiếc ghế gần cửa rồi lùi ra. Cử chỉ ấy làm tôi nhận ra anh luôn để đường đi trống khi nói chuyện khó. Không đứng chặn cửa. Không ép người khác phải ngồi. Bội San nhìn khoảng trống đó, cuối cùng nói: “Tôi nhận vali từ Bành Duy Khang. Ông ấy bảo đây là đồ của Cảnh Sơn, phải giữ đến khi tìm được gia đình.” “Vì sao không gửi thẳng cho chúng tôi?” “Có người tới đòi nợ. Họ nói Cảnh Sơn nợ tiền chữa trị và muốn lấy mọi thứ có giá. Tôi sợ họ tìm ra số kho.” “Bà đã sửa số?” Bội San lắc đầu quá nhanh. “Tôi chỉ làm theo biên bản.” Bà từ chối nói thêm. Tôi không có quyền giữ bà lại. Trước khi rời kho, tôi thấy trong khe tủ một tờ địa chỉ cũ. Bội San nhìn theo ánh mắt tôi rồi tự lấy nó ra. “Bành Duy Khang vẫn sống ở khu tập thể phía tây,” bà nói. “Nếu muốn hỏi, hãy hỏi ông ấy. Nhưng đừng nói tôi đưa địa chỉ.” Đó là một kiểu giúp đỡ vẫn cố giữ đường lui. Tôi nhận tờ giấy, ghi vào biên bản rằng bà tự nguyện cung cấp. Khu tập thể đường sắt cũ chỉ cách ga hai con phố. Duy Khang mở cửa sau lần gõ thứ hai. Ông cao, gầy, một bên chân đi chậm hơn bên kia. Khi nghe tên tôi, ông nhìn rất lâu rồi quay vào nhà mà không mời. Tôi tưởng cuộc gặp đã kết thúc. Một lát sau, ông trở ra với hộp thiếc đựng trà. “Tôi chờ cô hỏi suốt mười bảy năm,” ông nói. “Chờ lâu quá, có lúc lại mong cô đừng hỏi nữa.” Trong hộp là một cuống vé giấy. Ga đi ghi Thanh Phổ. Điểm đến trống. Mặt sau viết tên Bành Duy Khang. Tôi đặt ảnh tấm vé của mình cạnh nó. Giấy cùng loại. Nét chữ cùng một người. “Cha tôi đưa chú tấm này khi nào?” “Sau vụ sạt lở. Tôi bị thương ở chân, bị đơn vị chuyển sang việc bàn giấy. Tôi nghĩ mình thành đồ thừa, định bỏ về quê. Cảnh Sơn tới bệnh xá, cắt một mẩu vé cũ rồi bảo tôi tự viết nơi muốn đến.” “Chú đã viết gì?” “Không viết.” “Vì sao?” Duy Khang cười, gõ lên chân mình. “Tôi nhận ra mình không muốn đi đâu cả. Tôi muốn ở lại, nhưng làm theo cách khác. Tôi học sửa máy nhỏ, sau này phụ trách xưởng dụng cụ. Tấm vé này không đưa tôi đi. Nó bắt tôi ngừng đổ quyết định của mình cho hoàn cảnh.” Tôi hỏi điều mình sợ nhất. “Lúc đó cha tôi còn tỉnh táo?” “Rất tỉnh.” “Ông ấy có thể viết thư?” “Có.” “Có thể nhờ người báo cho gia đình?” Duy Khang nhìn xuống hộp trà. “Có.” Một câu trả lời đơn giản đủ làm căn phòng chật đi. Suốt nhiều năm, tôi từng bào chữa cho cha bằng những tai nạn mình tự tưởng tượng. Có thể ông hôn mê. Có thể ông mất trí nhớ. Có thể ông qua đời trước khi kịp gọi về. Duy Khang vừa đóng tất cả những cánh cửa đó. “Vậy vì sao ông ấy không về?” “Tôi không biết toàn bộ. Tôi chỉ biết Cảnh Sơn bị thương nặng hơn tôi. Ông ấy sợ trở thành gánh nặng.” “Tự quyết định biến mất để người khác khỏi gánh, nghe cao thượng thật.” Duy Khang ngẩng lên. “Không. Đó là quyết định hèn. Tôi từng nói thẳng như vậy. Cảnh Sơn giúp người khác chọn đường, nhưng đến lượt gia đình mình, ông ấy lại chọn thay tất cả.” Tôi không ngờ mình được nghe câu ấy từ bạn của cha. Không có sự bao che, cũng không có lời kết tội dễ dãi. Duy Khang đưa cuống vé cho tôi xem nhưng không trao hẳn. “Đây là của tôi. Cô có thể chụp để đối chiếu, không được mang đi.” “Tôi hiểu.” “Cảnh Sơn dặn mỗi người tự giữ. Nếu sau này ai gom hết lại để kể thành chuyện đẹp, phải hỏi từng người trước.” Tôi nhìn Giang Tự Hành. Anh đứng bên cửa sổ, không có vẻ ngạc nhiên. Trên đường về ga, tôi hỏi: “Anh cũng có một tấm?” Anh không trả lời ngay. “Có.” “Vì sao anh không nói từ đầu?” “Vì tấm đó là bằng chứng của tôi, không phải chìa khóa để mua lòng tin của cô.” “Anh luôn nói như đang soạn biên bản sao?” “Chỉ khi người đối diện có lý do chính đáng để không tin tôi.” Mưa lại đổ xuống. Chúng tôi trú vào quán mì cạnh ga. Quán chỉ có sáu bàn, hơi nước phủ mờ cửa kính. Tôi gọi mì nước. Giang Tự Hành gọi món giống tôi, rồi đẩy lọ tiêu sang bên vì thấy tôi hắt hơi từ lúc bước vào. Một hành động nhỏ không đủ để biến người lạ thành người đáng tin. Nhưng nó làm tôi bớt muốn tranh cãi. “Anh gặp cha tôi lúc bao nhiêu tuổi?” “Hai mươi hai.” “Anh định bỏ ngành?” “Định bỏ tất cả liên quan đến đường sắt.” “Vì sao?” “Cha tôi là quản lý một đội thi công. Sau một sự cố, ông nhận trách nhiệm thay cho người đã ép tiến độ. Tôi ghét việc mọi người gọi đó là hy sinh. Tôi nghĩ chỉ cần rời đi là thoát khỏi cách sống ấy.” “Cha tôi thuyết phục anh ở lại?” “Không. Cảnh Sơn hỏi nếu không có ai để chống lại, tôi còn muốn làm nghề này không. Tôi nói có. Ông ấy đưa tấm vé và bảo vậy thì đừng để cơn giận chọn nghề thay tôi.” Tôi khuấy bát mì dù đường nét trên mặt nước đã tan hết. “Ông ấy giỏi trao quyền cho người ngoài.” “Và đã không làm được điều đó với gia đình.” Giang Tự Hành nói ngay, không cố cứu hình ảnh của cha tôi. Cơn giận trong tôi bỗng không tìm được chỗ va. Anh lấy một phong bì niêm phong từ ống bản vẽ. “Đây là quyền truy cập bản sao hồ sơ phục hồi liên quan đến vali. Tôi đã chuẩn bị từ khi thấy tên cô trên danh mục. Nếu cô mở, hệ thống sẽ ghi cô tự nguyện tham gia đối chiếu. Nếu không, cô có thể trả lại.” “Anh không mở cho tôi xem trước?” “Không.” “Lỡ bên trong chỉ là giấy trắng?” “Cô có quyền nghi.” Tôi nhận phong bì. Trên mép dán không có lời thúc giục, chỉ có mã hồ sơ và tên tôi. Có lẽ vì mệt, có lẽ vì cuống vé của Duy Khang, tôi nói: “Cha từng gửi một lá thư về nhà.” Bàn tay Giang Tự Hành dừng trên đôi đũa. “Cô đã đọc?” “Đọc câu đầu.” “Còn lá thư?” “Tôi không muốn nói.” Anh gật đầu. “Được.” Chỉ một chữ đó khiến tôi thấy mình vừa được trả lại thứ gì. Anh không hỏi tiếp, không đoán, không bảo lá thư có thể quan trọng cho hồ sơ. Tôi đã quen với những người nghe thấy một bí mật là lập tức nghĩ mình có quyền bước vào. Chiều hôm ấy, tôi mang chiếc áo khoác trong vali đến tiệm sửa quần áo của mẹ theo biên bản mượn hiện vật. Tiệm nằm trong con phố nhỏ, cửa kính dán đầy mẫu gấu quần và cổ áo. Mẹ ngồi sau máy may, vòng đệm kim trên cổ tay. Bà nhìn chiếc áo chưa đầy một giây đã đứng bật dậy. “Con lấy ở đâu?” “Kho hành lý chuyển tới.” Mẹ chạm vào đường chỉ hổ phách ở cổ tay áo. Ngón tay bà run, nhưng giọng không run. “Mẹ khâu.” “Con biết.” “Không, con không biết.” Bà lật cổ tay áo ra. “Đường chỉ ngoài là của mẹ. Đường may trong không phải. Có người đã tháo ra rồi khâu lại.” Tôi cúi sát. Hai lớp chỉ cùng màu, nhưng mũi trong dài hơn, vụng hơn. “Cha mặc áo này khi rời nhà không?” “Không. Hôm đó trời nóng. Áo để trong vali, nhưng ông ấy chỉ mang túi dụng cụ. Sau này có người tới lấy vali, nói sẽ chuyển lên bệnh xá.” “Ai?” “Mẹ không nhớ tên. Một cô gái trẻ làm ở kho ga.” Bội San. Mẹ vuốt phẳng vai áo. “Cảnh Sơn còn sống sau hôm đó, đúng không?” Tôi có thể nói chưa chắc. Tôi có thể bảo cần xác minh thêm. Tôi đã dùng những câu như vậy hàng nghìn lần trong công việc để không trao hy vọng sai cho người mất đồ. Nhưng mẹ không hỏi với tư cách khách hàng. “Vâng. Ít nhất là vài tháng.” Bà khép mắt. Khi mở lại, bà không khóc. “Ông ấy có gửi gì không?” Lá thư nằm dưới lớp vải lót hộp kim chỉ, cách tay mẹ có lẽ chưa đến hai mét. Tôi nghe lại lời nói dối cũ trong miệng mình. “Con chưa tìm thấy gì khác.” Đó không hoàn toàn là lời nói dối mới. Nhưng nó tiếp tục nuôi lời nói dối cũ. Mẹ nhìn tôi lâu đến mức tôi tưởng bà đã biết. Cuối cùng bà tháo vòng đệm kim, đặt lên bàn. “Nếu tìm thấy, đừng quyết định trước xem mẹ chịu được đến đâu.” Tôi rời tiệm với chiếc áo nặng như ngấm nước. Trong phong bì Giang Tự Hành đưa có ba địa chỉ và bản sao một trang sổ. Hai ngày tiếp theo, chúng tôi tìm được hai người nhận vé khác. Người thứ nhất là La Tĩnh Văn, một y tá đã nghỉ hưu. Bà nhận tấm vé khi đứng trước quyết định chuyển đến một bệnh viện lớn ở Thượng Hải. Mọi người đều bảo đó là cơ hội không thể từ chối. Cảnh Sơn không khuyên ở hay đi. Ông chỉ hỏi bà muốn trở thành bác sĩ giỏi hơn vì mình hay vì sợ bị coi thường. Cuối cùng bà đi, rồi ba năm sau trở về mở phòng chăm sóc cộng đồng. Người thứ hai là Trình Mặc Chi, chủ một tiệm sách nhỏ. Ông nhận vé khi gia đình ép nối nghiệp kinh doanh vật liệu. Ông viết tên một con phố ở Hàng Châu vào ô điểm đến, rồi xé phần đó đem theo. Cuống vé trống còn lại như lời nhắc rằng lựa chọn đã được thực hiện, không phải lời hứa mọi chuyện sẽ dễ dàng. Cả hai cho tôi chụp cuống vé. Cả hai đều từ chối giao bản gốc. Tĩnh Văn nói: “Cô Lương từng tới. Cô ấy muốn dựng một câu chuyện về người thợ đường sắt bí ẩn đã thay đổi bốn cuộc đời.” “Bà đồng ý không?” “Không. Cảnh Sơn không thay đổi cuộc đời tôi. Tôi thay đổi nó. Ông ấy chỉ không giành cây bút.” Mặc Chi còn thẳng hơn. “Nếu họ kể, họ sẽ biến chúng tôi thành bốn người được cứu. Nghe đẹp, bán vé tốt, nhưng sai.” Tôi hiểu vì sao Duy Khang cảnh báo việc gom mọi mẩu chuyện lại. Một vật chứng có thể trở thành nhà tù nếu người trưng bày quyết định ý nghĩa duy nhất cho nó. Sau mỗi cuộc gặp, Giang Tự Hành đều hỏi chủ nhân cuống vé có cho phép ghi âm hay chỉ ghi chép. Nếu họ chỉ cho xem, anh cất máy. Nếu họ không muốn tên xuất hiện, anh dùng mã tạm. Tôi bắt đầu tin anh không phải vì anh kể thêm, mà vì anh biết lúc nào không được lấy. Buổi tối ngày thứ tư, chúng tôi trở lại phòng chờ ga Thanh Phổ. Bốn ảnh cuống vé nằm trên bàn, tương ứng bốn khe trống trong vali. Tấm vé cuối của tôi đặt trong túi trong suốt ở giữa. Giang Tự Hành lấy ví. Từ ngăn sâu nhất, anh rút một cuống vé đã được ép giữa hai miếng nhựa mỏng. Mặt sau ghi tên Giang Tự Hành. “Người thứ tư là anh.” “Phải.” “Anh biết ba người còn lại?” “Chỉ biết họ tồn tại. Cảnh Sơn không kể lựa chọn của người này cho người khác.” Tôi xếp ảnh theo dấu gấp. Các vết cắt khớp với đường răng cưa trên tấm vé của tôi. Năm tấm vốn thuộc một dải vé cũ. Cha đã tách bốn phần cho bốn người. Phần cuối giữ nguyên, ghi tên con gái mình, nhưng không trao. Tôi hỏi: “Tại sao lại không ghi điểm đến?” Giang Tự Hành nhìn cuống vé trong tay. “Ngày tôi nhận, tôi cũng hỏi. Cảnh Sơn nói người viết điểm đến phải là người đi. Nếu ông ấy viết thay, tấm vé chỉ là một mệnh lệnh được làm cho giống món quà.” Câu nói ấy đổi nghĩa mọi thứ. Cha không để lại bản đồ. Không có nhà ga bí mật nào cần tìm. Tấm vé cũng không phải lời mời tôi đi theo ông. Nó là một ô trống dành cho tôi, nhưng ông đã chết trước khi trao tận tay. “Vậy tại sao ông ấy để anh giữ vali?” “Tôi không phải người giữ đầu tiên.” “Bội San?” “Phải. Sau khi ga dừng hoạt động, kho bị chuyển. Cô Hứa sợ hồ sơ thất lạc nên nhờ tôi đưa vali vào danh mục phục hồi. Tôi chỉ nhận quản lý về sau.” “Anh có thể gửi cho tôi mười năm trước.” “Có.” “Vì sao không gửi?” “Vì lời ủy thác nói chỉ giao khi cô chủ động tìm tới hồ sơ.” Tôi đứng dậy. Ghế gỗ kéo trên nền phát tiếng sắc. “Anh gọi đó là tôn trọng lựa chọn sao? Tôi không biết hồ sơ tồn tại thì chủ động bằng cách nào?” “Tôi biết.” “Anh biết mà vẫn chờ?” “Tôi đã nghĩ giữ đúng lời là cách ít gây hại nhất.” “Anh nghĩ sai.” “Phải.” Anh nhận ngay, khiến câu trách móc tiếp theo của tôi mắc lại. Giang Tự Hành đặt cuống vé xuống. “Tôi đã dùng lời hứa làm lý do không phải quyết định. Mỗi năm dự án kiểm kê, tôi đều có thể yêu cầu rà người thừa kế. Tôi không làm. Khi vali bị ai đó đẩy vào hệ thống ga Đông, điều đầu tiên tôi thấy không phải họ vượt quyền cô, mà là họ đã làm việc tôi không dám làm.” “Anh muốn tôi cảm ơn sự thành thật này?” “Không. Tôi muốn cô có đủ dữ kiện để quyết định có tiếp tục làm việc với tôi.” Tôi nhìn ô cửa phòng chờ. Ngoài kia, đường ray cũ phủ nước mưa, kéo về hai hướng rồi mất sau những mái nhà. “Nếu dừng làm việc với anh, tôi có mất quyền xem hồ sơ không?” “Không. Tôi sẽ chuyển đầu mối khác.” “Vậy tôi tiếp tục. Không phải vì tha thứ. Vì đổi người lúc này làm chậm việc.” “Đủ rồi.” Anh không đòi một lời dễ nghe hơn. Có lẽ đó là lúc tôi bắt đầu thấy nguy hiểm thật sự của Giang Tự Hành. Anh không chen vào chỗ trống bằng lời hứa, nên chỗ trống ấy khiến tôi phải tự nhìn xem mình muốn đặt gì vào. Hồ sơ y tế cũ không còn đầy đủ. Chúng tôi chỉ tìm được sổ cấp thuốc, danh sách người tạm trú ở bệnh xá đường sắt và ba biên bản chuyển viện. Tên cha xuất hiện trong mười tháng sau vụ sạt lở. Ông bị tổn thương ở lưng và chân, không còn làm việc nặng. Không có bệnh nan y. Không có chứng mất trí nhớ. Ông tỉnh táo, có thể viết, có thể gặp người khác và từng giúp bệnh xá sửa sổ vật tư. Tôi đọc từng dòng trong phòng lưu trữ, cảm giác như có ai cẩn thận tháo bỏ những cái cớ tôi đã dựng cho ông. Giang Tự Hành kể lần gặp cuối. “Hôm đó Cảnh Sơn ngồi ngoài hiên bệnh xá. Ông hỏi tôi đã viết điểm đến chưa. Tôi nói chưa cần. Ông cười bảo đừng biến việc chưa chọn thành một đức tính.” “Ông ấy nói về gia đình không?” “Có.” “Nói gì?” “Rằng ông ấy sợ trở về trong tình trạng phải để vợ con chăm sóc. Ông ấy tin nếu biến mất, hai người sẽ giận rồi sống tiếp nhanh hơn.” Tôi siết mép hồ sơ. “Chúng tôi đã không sống tiếp nhanh hơn.” “Tôi biết.” “Anh không biết.” Giang Tự Hành im lặng. Tôi hít sâu. “Xin lỗi. Anh không đáng nhận câu đó.” “Tôi không biết như cô. Nhưng tôi biết Cảnh Sơn sai. Ông ấy biến nỗi sợ của mình thành quyết định cho hai người. Việc ông ấy nhận ra sau này không xóa được hậu quả.” “Ông ấy có nhận ra?” “Có. Lá thư cuối được viết sau cuộc nói chuyện ấy.” Tôi quay phắt sang. “Anh đã đọc?” “Không. Cảnh Sơn đọc cho tôi nghe câu đầu vì sợ mình lại dùng lời xin lỗi để bắt người khác tha thứ. Phần còn lại ông ấy niêm phong.” Vậy là Giang Tự Hành không biết nội dung. Bí mật lớn nhất giữa chúng tôi vẫn do tôi giữ. Chúng tôi quay lại kho tìm Bội San. Lần này tôi đặt trước bà năm ảnh: vali, trang sổ bị sửa, bốn cuống vé và áo khoác có đường may hai lớp. “Tôi không cần bà kể thay cha tôi,” tôi nói. “Tôi chỉ cần nguồn gốc từng vật. Ai đưa vali cho bà? Ai khâu lại áo? Ai chuyển thư?” Bội San ngồi rất lâu. Cuối cùng bà kéo cuốn sổ về. “Tôi sửa số kho.” “Tại sao?” “Sau khi Cảnh Sơn qua đời, bệnh xá còn một khoản chi chưa quyết toán. Một người tự nhận đại diện chủ nợ đến lục đồ. Tôi sợ họ lấy vali nên đổi số trong sổ và xé trang bàn giao.” “Đó là người bảo vệ sai cách thứ mấy trong câu chuyện này rồi?” Bội San cúi đầu. “Tôi biết. Lúc ấy tôi nghĩ chỉ giấu vài ngày. Rồi ga đóng. Hồ sơ chuyển. Càng lâu càng khó nói.” “Ai may lại áo?” “Cảnh Sơn. Ông ấy giấu một tờ danh sách trong túi lót, bảo chỉ người khâu đường chỉ ban đầu mới nhận ra.” “Mẹ tôi.” “Có lẽ.” “Ai chuyển thư?” “Tôi.” Tôi thấy cổ họng khô lại. “Bà đưa tận nhà?” “Tôi gặp một bé gái ở cổng khu tập thể. Con bé nói là Minh Ý.” Tôi nhớ bà. Một cô gái mặc áo mưa vàng, tóc ướt dính vào má, trao phong bì rồi dặn đưa cho mẹ. Tôi đã đứng dưới mái hiên đọc trộm trước khi vào nhà. Bội San nhìn tôi. “Thư đến tay cô, đúng không?” Tôi không đáp. Bà không hỏi thêm. Có lẽ người từng giấu một con số nhận ra vẻ mặt của người đã giấu một lá thư. “Còn chiếc vali được đưa về ga Đông?” tôi hỏi. “Ba ngày trước, nhà thầu của doanh nghiệp tài trợ yêu cầu xuất kho để chụp danh mục. Tôi phản đối. Kỹ sư Tự Hành cũng không đồng ý. Nhưng họ có giấy của ban điều phối.” Giang Tự Hành mở hồ sơ điện tử. Lệnh xuất kho chỉ cho phép đưa vali sang phòng chụp trong cùng khu ga cũ. Có người đã thay địa chỉ đích sau khi anh ký xác nhận tình trạng hiện vật. Chữ ký của Lương Khả Nghi nằm ở phần yêu cầu truyền thông. Chiều ngày thứ sáu, Khả Nghi mời chúng tôi đến phòng họp của dự án. Cô mặc áo khoác xám than, cặp tài liệu màu bạc đặt ngay ngắn trước mặt. Trên màn hình là bản thiết kế triển lãm. Ở chính giữa, hình chiếc vali xanh rêu được phóng lớn dưới một dòng giới thiệu chưa hoàn chỉnh. “Tôi xin lỗi về sai sót chuyển kho,” Khả Nghi nói. “Nhà thầu đã hiểu nhầm địa chỉ. Nhưng nhờ vậy, chúng ta tìm được cô Minh Ý. Kết quả không hẳn xấu.” “Tự ý kích hoạt hồ sơ người thừa kế không trở thành việc tốt chỉ vì cô thích kết quả,” tôi đáp. “Tôi thừa nhận quy trình có vấn đề. Tôi sẵn sàng sửa. Đổi lại, tôi muốn đề nghị hợp tác.” Cô mở bản dự toán. Khoản tài trợ đủ để hoàn thiện mái phía đông, xử lý nền ẩm và mở cửa ga đúng kế hoạch. Điều kiện là doanh nghiệp có quyền sản xuất nội dung độc quyền từ chiếc vali cùng câu chuyện của cha tôi trong ba năm. “Tôi không sở hữu câu chuyện của bốn người nhận vé,” tôi nói. “Chúng tôi có thể đổi tên.” “Đổi tên không đổi quyền.” Khả Nghi mỉm cười nhẹ. “Cô làm việc với hành lý thất lạc, chắc hiểu giá trị của việc đưa một món đồ về đúng chỗ. Chúng tôi đang đưa ký ức này về với công chúng.” “Công chúng không phải chủ sở hữu.” “Nhưng không có tài trợ, tòa nhà có thể tiếp tục đóng. Khi đó không ai được thấy gì cả.” Đây là phần thưởng giả được gói rất đẹp. Giao chiếc vali, cứu nhà ga. Giữ quyền riêng tư, để mái dột thêm một mùa. Nếu chỉ nhìn hai lựa chọn Khả Nghi đặt ra, từ chối cô sẽ giống ích kỷ. Giang Tự Hành hỏi: “Điều khoản nào cho phép doanh nghiệp dùng hiện vật chưa xác định sở hữu?” Khả Nghi lật đến phụ lục hiến tặng. “Đơn vị quản lý ga có quyền trưng bày vật nằm trong danh mục phục hồi.” “Quyền trưng bày không bằng quyền chuyển giao câu chuyện cá nhân.” “Vậy chúng ta sẽ làm rõ trước buổi công bố ngày kia.” Cô rút từ cặp bạc một tờ giấy bọc nhựa. Tôi chỉ nhìn dòng đầu đã nhận ra. Minh Ý, nếu con vẫn chưa làm mất lòng tin vào lựa chọn của chính mình... Tôi đứng bật dậy. “Cô lấy ở đâu?” “Bản sao từ lô giấy tờ thu dọn nhà tập thể cũ. Người cung cấp nói bức thư liên quan trực tiếp đến chiếc vali.” “Cô không có toàn bộ.” “Trang đầu đã đủ chứng minh đây là một di sản có câu chuyện.” “Tôi hỏi lại. Cô lấy ở đâu?” Khả Nghi khép cặp. “Thông tin nguồn sẽ được cung cấp trong quy trình pháp lý. Tôi mong cô tìm bản gốc, nếu còn. Bản gốc có thể giúp xác định quyền của gia đình và cũng làm triển lãm đáng tin hơn.” Cô biết. Có thể không biết tôi giấu thư, nhưng biết bản gốc từng về nhà. Trên đường về, tôi không nói gì. Giang Tự Hành đi bên cạnh, giữ khoảng cách nửa bước. Đến trước căn hộ, anh mới hỏi: “Cô muốn tôi chờ ngoài hay đi?” “Tôi cần tìm một thứ.” “Tôi hiểu.” “Không, anh chưa hiểu.” Tôi mở cửa rồi quay lại. “Vào đi. Tôi không muốn kể hai lần.” Hộp kim chỉ nằm trên nóc tủ quần áo. Mẹ tặng tôi khi chuyển ra ở riêng, bảo trong đó toàn cúc thừa và chỉ cũ, giữ cũng vô ích. Bà không biết lớp lót đáy đã bị một đứa trẻ mười hai tuổi rạch ra rồi khâu lại vụng về. Tôi đặt hộp lên bàn. Đường chỉ hổ phách ở góc trái vẫn còn. Tôi dùng kéo nhỏ cắt từng mũi. Phong bì rơi ra, giấy đã mềm ở các nếp gấp. Giang Tự Hành đứng cách bàn một khoảng. “Anh có thể lại gần,” tôi nói. “Cô chưa cho phép đọc.” “Tôi chưa định đọc.” Tôi cầm phong bì, lần đầu nói trọn sự thật. “Năm đó, tôi nhận thư ở cổng. Tôi đọc câu đầu và câu tiếp theo. Cha bảo mẹ đừng chờ. Tôi nhìn bà vá áo cho ông mỗi tối, rồi nghĩ nếu thư biến mất, mẹ sẽ còn hy vọng. Tôi giấu nó. Tôi nói người đưa thư nhầm nhà.” “Cô mười hai tuổi.” “Đừng dùng tuổi để xóa việc tôi làm.” “Tôi không xóa. Tôi chỉ không dùng hiểu biết của người hai mươi chín tuổi để kết án một đứa trẻ.” “Nhưng tôi đã hai mươi chín tuổi suốt một năm rồi. Trước đó hai mươi tám. Hai mươi bảy. Tôi có rất nhiều năm để trả lại.” “Đúng.” Tôi nhìn anh. Giang Tự Hành không nói rằng tôi làm vì yêu mẹ nên có thể tha thứ. Anh cũng không bảo mọi chuyện sẽ ổn. “Anh nghĩ tôi nên làm gì?” “Cô muốn làm gì?” “Tôi hỏi anh.” “Và tôi không muốn biến câu trả lời của mình thành nơi cô trốn quyết định.” Tôi giận đến muốn ném hộp kim chỉ vào anh. Nhưng dưới cơn giận là một cảm giác khác: nhẹ nhõm. Cuối cùng có người không nhận lấy quyền phán xử chỉ vì tôi đưa ra. “Tôi muốn trao thư cho mẹ trước khi Khả Nghi công bố. Tôi muốn xin lỗi. Tôi cũng muốn bà đừng ghét tôi.” “Vế cuối không thuộc quyền cô.” “Tôi biết.” “Còn dự án?” “Tách ra. Trả thư là việc của gia đình. Quyền trưng bày là việc của những người có vật chứng.” “Vậy sáng mai tôi sẽ chuẩn bị danh sách chủ thể. Tối nay cô nên tới gặp mẹ.” Tôi chưa kịp đi thì Khả Nghi đẩy thời gian buổi duyệt nội dung lên ngay sáng hôm sau. Tin nhắn nói đại diện quỹ và đơn vị quản lý ga đều có mặt. Nếu chúng tôi vắng, bản kế hoạch hiện tại vẫn được trình. Tôi gọi mẹ. Bà không nghe. Tiệm đã đóng cửa. Tôi tự nhủ sẽ gặp bà trước buổi duyệt, nhưng sáng hôm sau, khi tới ga Thanh Phổ, tôi thấy mẹ đứng trong phòng họp. Khả Nghi đã mời bà với tư cách thân nhân của Cảnh Sơn. Mẹ nhìn tôi, có vẻ ngạc nhiên vì tôi cũng ở đó. Trên bàn là bản sao trang đầu lá thư. Tôi bước nhanh tới. “Mẹ, mình ra ngoài nói chuyện.” Khả Nghi đứng lên. “Cô Minh Ý, chúng tôi chỉ đang xác nhận thân phận. Bà Tú Lan có quyền biết tài liệu liên quan đến chồng.” “Tôi biết mẹ có quyền.” “Vậy càng tốt. Bản sao này bắt đầu bằng lời gửi cho cô.” Mẹ nhìn tờ giấy. “Thư gì?” Không còn đường lùi nào mà không tiếp tục nói dối. Tôi đặt phong bì gốc lên bàn nhưng giữ tay trên đó. “Lá thư cha gửi về mười bảy năm trước.” Mẹ không nhìn phong bì. Bà nhìn tôi. “Con nói không có thư.” “Con đã nói dối.” Căn phòng im đến mức nghe được tiếng búa trên mái phía đông. Khả Nghi định nói gì đó. Giang Tự Hành ngắt lời: “Đây không còn là nội dung cuộc họp. Xin dừng trình chiếu.” Mẹ hỏi tôi: “Con đọc chưa?” “Con đọc hai câu đầu.” “Rồi giấu?” “Vâng.” “Vì sao?” “Con sợ mẹ đọc câu cha bảo đừng chờ.” Mẹ cười một tiếng rất nhỏ. “Thế là con để mẹ chờ mười bảy năm?” Tôi không thể trả lời theo cách nào khiến câu ấy nhẹ hơn. “Vâng.” Mẹ đứng dậy. Tôi đưa phong bì ra. “Bây giờ mẹ cầm lấy.” Bà không nhận. “Không phải ở đây.” “Con xin lỗi.” “Đừng xin mẹ tha thứ ngay lúc này. Mẹ cần quyền được giận mà không bị con giải thích thay.” Câu nói ấy sắc hơn mọi lời mắng. Mẹ đi qua tôi, không nhìn chiếc áo trong tủ kính tạm, không nhìn ai khác. Tôi định chạy theo. Điện thoại của Giang Tự Hành reo. Anh nghe vài giây rồi nói kho hồ sơ vừa bị niêm phong để kiểm tra tranh chấp quyền sở hữu. Nếu không giải quyết trước buổi công bố ngày mai, doanh nghiệp sẽ dùng bản danh mục hiện có làm căn cứ. Hai việc cùng đòi tôi lựa chọn: theo mẹ hoặc ở lại giữ dự án. Cả đời tôi ghét người khác quyết định thay mình, vậy mà khi đến lượt, tôi chỉ muốn có ai nói đâu là đáp án đúng. Giang Tự Hành nhìn tôi. “Tôi xử lý việc niêm phong trong phạm vi kỹ thuật. Cô đi gặp mẹ.” “Anh lại quyết định giúp tôi?” “Không. Tôi nói phần tôi tự chọn làm. Cô vẫn chọn phần của cô.” Tôi cầm phong bì chạy ra mưa. Tiệm may đóng cửa, rèm kéo kín. Tôi gõ suốt mười phút. Mẹ không mở. Tôi ngồi dưới mái hiên đến tối, nước mưa tạt ướt nửa vai. Có lúc tôi muốn nhét thư qua khe cửa, hoàn thành động tác trao trả rồi bỏ đi. Nhưng như thế vẫn là chọn thời điểm thay bà. Gần chín giờ, đèn trong tiệm bật sáng. Mẹ mở cửa. “Vào đi. Hàng xóm nhìn.” Bên trong không bật máy sưởi. Mẹ ngồi sau bàn cắt vải. Tôi đặt phong bì trước mặt bà. “Con không mở thêm. Con cũng không sao chép. Bản của Khả Nghi chỉ có trang đầu, con không biết từ đâu. Đây là bản gốc.” Mẹ không chạm vào. “Con muốn mẹ đọc để kịp cứu nhà ga?” “Không. Con muốn trả lại vì nó thuộc về mẹ. Mẹ có thể đọc, đốt, cất, hoặc không quyết định hôm nay. Việc đó không liên quan đến dự án.” “Con đã biết nói đúng câu rồi.” “Con biết nói không có nghĩa con làm đúng.” Mẹ nhìn ra cửa kính. Mưa kéo những vệt dài qua ánh đèn đường. “Năm con mười hai tuổi, mẹ đã dựa vào con quá nhiều,” bà nói. “Mẹ hỏi con mỗi ngày có tin gì của cha không. Mẹ biến con thành người gác cửa cho nỗi chờ của mẹ. Việc đó không đúng.” “Nhưng con giấu thư.” “Phải. Hai việc có thể cùng sai.” Tôi cúi đầu. Chúng tôi ngồi rất lâu mà không ai cố làm lành. Lạ thay, sự im lặng ấy không lạnh. Nó chỉ là khoảng thời gian mẹ được phép chưa quyết định. Cuối cùng bà kéo phong bì về phía mình, cất vào ngăn bàn mà không mở. “Chiếc áo đâu?” “Ở ga, trong tủ bảo quản tạm.” “Đường chỉ trong tay áo không phải để sửa rách. Cảnh Sơn chỉ biết khâu kiểu đó khi muốn giấu tiền đi đường. Ông ấy sẽ để một túi lót bên dưới.” Tôi nhớ Bội San nói có danh sách trong áo. “Mẹ có muốn đi cùng con lấy không?” “Không. Con xin biên bản mang áo về đây. Mẹ sẽ chỉ chỗ mở, nhưng con tự làm việc của con.” Đó chưa phải tha thứ. Đó là một phần việc mẹ tự nguyện nhận. Sáng sớm, với sự chứng kiến của nhân viên lưu trữ, mẹ dùng kéo tách đúng ba mũi chỉ. Một túi vải mỏng lộ ra. Bên trong là tờ danh sách năm cái tên, địa chỉ cũ và một dòng viết tay: Mỗi tấm vé thuộc về người có tên. Không ai được kể thay nếu chưa hỏi. Dưới cùng có chữ ký của Cảnh Sơn và hai người làm chứng: Bội San, Duy Khang. Tờ giấy không tự động giải quyết tranh chấp pháp lý. Nhưng nó chứng minh ý định phân quyền của người tạo vật chứng và chỉ ra những chủ thể phải được hỏi. Tôi dành cả ngày liên hệ từng người. Duy Khang đồng ý cho trưng bày ảnh cuống vé, với điều kiện chú thích phải ghi ông tự chọn ở lại và chịu trách nhiệm cho lựa chọn ấy. Tĩnh Văn chỉ cho phép dùng lời kể, không dùng tên hay ảnh. Mặc Chi từ chối mọi hình thức trưng bày tấm vé của mình nhưng đồng ý ký xác nhận rằng doanh nghiệp không có quyền gộp nó vào câu chuyện chung. Người thứ tư là Giang Tự Hành. Anh đặt cuống vé lên bàn trước mặt tôi. “Tôi cho phép trưng bày bản gốc trong ba tháng. Sau đó phải trả.” “Tại sao anh đồng ý bản gốc?” “Vì tôi muốn. Không phải để bù cho cô hay cứu dự án.” “Điều kiện?” “Phần giới thiệu chỉ nói đây là vật nhắc tôi tự chọn nghề. Không dùng cha tôi, không biến Cảnh Sơn thành người cứu tôi.” Tôi ghi đúng từng chữ. Anh hỏi: “Còn tấm của cô?” “Tôi chưa quyết định.” “Được.” “Anh không định khuyên sao?” “Không.” “Tôi bắt đầu thấy anh lười rồi.” Giang Tự Hành cười. Đây là lần đầu sau nhiều ngày, tôi cũng cười được. Chúng tôi không chỉ thu chữ ký đồng ý. Chúng tôi ghi cả quyền từ chối, thời hạn cho mượn, câu chữ được phép dùng và cách rút vật chứng. Từ bốn lựa chọn khác nhau, một mô hình mới hiện ra: kho ký ức không sở hữu câu chuyện; nó chỉ giữ hộ theo điều kiện của người trao. Khả Nghi đã đặt chúng tôi trước hai lựa chọn, độc quyền hoặc đóng cửa. Chúng tôi tạo lựa chọn thứ ba. Trước buổi công bố, Giang Tự Hành nhận thông báo anh có thể bị rút khỏi vị trí phụ trách vì cản trở nhà tài trợ. Anh đọc xong, gấp điện thoại lại. “Anh ổn không?” tôi hỏi. “Không hẳn.” “Anh có thể rút cuống vé và tránh đứng tên.” “Đó là đề nghị hay cô đang quyết định thay tôi?” Tôi thở ra. “Đề nghị. Anh được từ chối.” “Tôi từ chối.” “Rõ.” Anh nhìn tôi một lúc rồi nói: “Sau hôm nay, dù dự án thế nào, tôi muốn mời cô ăn một bữa không có hồ sơ trên bàn.” “Đây là lúc tỏ tình sao?” “Không. Đây là lúc hỏi trước xem cô có muốn tôi tỏ tình vào một ngày khác không.” Tôi bật cười, lần này thành tiếng. “Anh đúng là người có thể biến lãng mạn thành phiếu xác nhận.” “Cô chưa trả lời.” “Sau hôm nay, hỏi lại.” “Được.” Buổi công bố diễn ra trong phòng chờ ga Thanh Phổ. Mái phía đông vẫn quây bạt. Phóng viên đứng thành hai hàng. Mô hình triển lãm đặt giữa sảnh, chiếc vali xanh rêu được dự kiến làm tâm điểm nhưng vẫn còn ở phòng bảo quản. Khả Nghi lên sân khấu trước. Cô nói về ký ức đường sắt, về những chuyến đi nối con người, về nhà tài trợ sẵn sàng cứu một di sản khỏi xuống cấp. Cách cô kể rất hay. Nếu không biết phần bị cắt bỏ, có lẽ tôi cũng tin đây là cơ hội duy nhất. Trên màn hình xuất hiện ảnh tấm vé trống của tôi. Không có mặt sau, nhưng tôi nhận ra vết ố ở góc. Khả Nghi nói: “Đây là di vật cuối của một người thợ đã giúp nhiều người tìm thấy hướng đi.” Tôi đứng lên. “Xin dừng ở đó.” Mọi máy quay chuyển về phía tôi. Tim tôi đập mạnh đến mức câu đầu tiên gần như không thành tiếng. Tôi nhìn mẹ. Bà đứng gần cuối phòng, phong bì thư nằm trong túi áo. Bà không gật đầu khích lệ. Bà chỉ nhìn, để tôi tự nói. Tôi bước lên cạnh sân khấu. “Tấm vé trên màn hình không phải di vật cuối của một người hùng. Nó là một trong năm tấm thuộc năm người khác nhau. Ba người không cho phép doanh nghiệp dùng vật của họ theo cách vừa trình bày. Một người cho mượn có thời hạn. Còn tấm này thuộc quyền quyết định của tôi, và tôi chưa đồng ý.” Khả Nghi giữ nụ cười. “Cô Minh Ý, hình ảnh được lấy từ hồ sơ kiểm kê của dự án. Chúng tôi chưa công bố nội dung riêng tư.” “Cô vừa gộp năm lựa chọn thành một huyền thoại. Đó chính là nội dung riêng tư.” Đại diện quỹ yêu cầu làm rõ căn cứ. Tôi đưa bản sao danh sách trong túi áo, biên bản nguồn gốc vali, xác nhận của Bội San và Duy Khang, cùng bốn văn bản nêu quyền sử dụng khác nhau. Khả Nghi nói: “Những giấy này không phủ nhận quyền trưng bày hiện vật thuộc danh mục ga.” “Đúng. Chúng chứng minh danh mục không có một chủ thể duy nhất để ký hợp đồng độc quyền. Nếu doanh nghiệp muốn hỗ trợ mái nhà, chúng tôi biết ơn. Nếu doanh nghiệp muốn đổi tiền lấy quyền kể thay, điều đó không có trong thỏa thuận hiến tặng.” Một phóng viên hỏi lá thư cuối có xác nhận ý nguyện của Cảnh Sơn không. Đây là điểm tôi có thể né bằng quyền riêng tư. Nhưng nếu chỉ né, Khả Nghi sẽ tiếp tục dùng bản sao như một thứ quyền lực treo trên đầu mẹ con tôi. “Tôi không công bố nội dung lá thư,” tôi nói. “Tôi chỉ xác nhận bản gốc thuộc về mẹ tôi và chưa được cho phép sử dụng. Tôi cũng phải nói rõ vì sao bản gốc không xuất hiện suốt mười bảy năm.” Mẹ nhìn tôi. Tôi cho bà thời gian ngăn lại. Bà không ra hiệu gì. “Tôi đã giấu nó khi mười hai tuổi. Tôi nói với mẹ rằng không có thư. Tôi tưởng mình đang bảo vệ bà, nhưng thật ra tôi tước quyền được biết và được quyết định của bà. Chính sai lầm đó khiến tôi hiểu một dự án mang danh bảo tồn vẫn có thể gây tổn thương nếu quyết định thay người khác.” Căn phòng xôn xao. Tôi biết lời thú nhận ấy có thể đi theo tên tôi lâu hơn mọi biên bản. Đồng nghiệp có thể hỏi một người từng giấu thư gia đình có đáng tin trong công việc hành lý thất lạc không. Nhưng nếu tôi dùng danh tiếng để che lỗi, tôi sẽ làm đúng điều mình đang phản đối. “Tôi không yêu cầu mọi người tin tôi vì câu chuyện cảm động,” tôi tiếp tục. “Tôi đề nghị nhìn vào cơ chế. Mỗi chủ thể giữ quyền đồng ý, từ chối, giới hạn thời gian và rút vật chứng. Kho lưu trữ ghi điều kiện đó cùng nguồn gốc. Không ai, kể cả gia đình tôi, được biến lựa chọn của người khác thành tài sản chung.” Giang Tự Hành trình bản thiết kế thay thế. Không có tủ kính trung tâm cho chiếc vali. Thay vào đó là năm ngăn riêng, mỗi ngăn có khóa và điều kiện sử dụng khác nhau. Một ngăn có thể để trống nếu chủ nhân không đồng ý trưng bày. Khoảng trống được giữ như một phần của câu chuyện, không bị lấp bằng bản sao. Đại diện quỹ hỏi chi phí. “Thấp hơn thiết kế sân khấu hiện tại,” Giang Tự Hành đáp. “Khoản tiết kiệm đủ xử lý một phần mái phía đông. Phần còn thiếu có thể chia thành tài trợ hạng mục, không gắn quyền độc quyền nội dung.” Khả Nghi nhìn bảng dự toán. Lần đầu tiên, vẻ mềm mại được chuẩn bị kỹ trên mặt cô rạn đi. “Nếu không có câu chuyện trung tâm, chiến dịch sẽ mất sức hút.” Tôi nói: “Câu chuyện trung tâm là không ai được sở hữu đường đi của người khác.” “Khó truyền thông.” “Nhưng thật.” Một phóng viên hỏi Khả Nghi liệu doanh nghiệp có rút tài trợ không. Đây là khoảnh khắc cô có quyền lực thật. Nếu rút, dự án chậm ít nhất một năm. Nếu ở lại, cô mất quyền điều khiển câu chuyện nhưng có thể biến sự thay đổi thành cam kết đạo đức. Khả Nghi nhìn những máy quay, rồi nhìn mô hình mới. “Doanh nghiệp không có mục tiêu tước quyền của bất kỳ gia đình nào,” cô nói chậm. “Chúng tôi chấp nhận thảo luận cơ chế đồng quản lý, với điều kiện quỹ xác nhận tiến độ và minh bạch ngân sách.” Cô không xin lỗi. Cũng không nhận mình sai hoàn toàn. Nhưng cô đã chọn lùi khỏi hợp đồng độc quyền trước công chúng. Đó là hậu quả thực tế, không phải màn vạch mặt khiến một người biến mất khỏi câu chuyện. Bội San bước lên xác nhận việc sửa số kho. Bà nói rõ mình làm để giấu vali khỏi người đòi nợ, thừa nhận đã vi phạm quy trình và sẵn sàng chịu xem xét trách nhiệm. Duy Khang xác nhận chữ ký trên danh sách. Tĩnh Văn gửi bản ghi âm chỉ cho phép phát đúng một câu: “Tôi tự chọn đường của tôi.” Mặc Chi không xuất hiện, và sự vắng mặt của ông được tôn trọng. Cuộc họp kéo dài hơn ba giờ. Khi người cuối cùng rời đi, trời đã tạnh. Ánh sáng cuối chiều rơi qua những ô cửa cao, làm bụi vôi lấp lánh. Tôi thấy mẹ ngồi ở hàng ghế cuối. Tôi tới gần nhưng không ngồi sát. “Mẹ có muốn về không?” “Chờ một chút.” Bà lấy phong bì ra. Mép niêm phong vẫn nguyên. “Mẹ định đọc ở đây?” “Con muốn mẹ đọc ở đâu?” Tôi nhận ra câu hỏi thử. “Ở đâu mẹ chọn.” Bà khẽ gật, mở phong bì. Tôi quay mặt về đường ray, không nhìn chữ. Mẹ đọc rất chậm. Có lúc bà dừng, đặt tay lên trang giấy. Tôi không hỏi. Giang Tự Hành đứng ở đầu kia phòng chờ, đủ xa để không nghe. Một lúc lâu sau, mẹ gọi tôi. “Con có muốn biết không?” “Có. Nhưng mẹ không phải kể.” “Cha con viết rằng ông ấy sợ trở về sẽ biến mẹ thành người chăm bệnh và con thành đứa trẻ phải trưởng thành sớm. Ông ấy nghĩ rời đi là cách cắt gánh nặng. Sau đó ông ấy nhìn những người ở bệnh xá chờ tin và hiểu mình đã chọn thay chúng ta.” Mẹ gấp thư lại. “Ông ấy xin lỗi. Không xin tha thứ. Ông ấy bảo tấm vé cuối dành cho con, nhưng nếu con không muốn nhận thì hãy bỏ nó đi.” Tôi nhìn túi chứng cứ trong tủ tạm. “Mẹ giận cha không?” “Có.” “Còn yêu không?” “Có những tình cảm không biến mất chỉ vì người ta làm sai. Nhưng yêu không buộc mẹ phải tiếp tục chờ.” Bà đưa tay cho tôi. Tôi nắm lấy. “Mẹ chưa tha thứ hết cho con,” bà nói. “Con biết.” “Nhưng mẹ không muốn mười bảy năm tới chỉ dùng để phạt con cho mười bảy năm trước.” Nước mắt tôi rơi lúc nào không biết. Mẹ lấy khăn tay đưa, vẫn là động tác thực tế quen thuộc, không ôm tôi ngay. Tôi lau mặt rồi hỏi: “Mẹ muốn làm gì với chiếc áo và vali?” “Giữ áo. Đưa vali vào kho cộng đồng. Tấm vé của con do con chọn.” “Chìa khóa tủ?” “Gia đình mình giữ một bản. Quỹ giữ một bản. Muốn mở phải có cả hai.” Đó là cách mẹ xây lại niềm tin: không trao hết quyền cho ai, kể cả tôi. Giang Tự Hành tới khi mẹ gọi. Bà nhìn anh từ đầu đến chân, lâu đến mức anh đứng thẳng hơn. “Cậu là người giữ vali mười năm?” “Vâng.” “Cậu cũng giỏi quyết định thay người khác.” “Vâng.” “Biết sai chưa?” “Biết.” Mẹ quay sang tôi. “Ít nhất người này trả lời ngắn.” Tôi bật cười trong nước mắt. Giang Tự Hành cũng cười, hơi bất lực. Ba tuần sau, ga Thanh Phổ mở cửa thử nghiệm. Mái phía đông chưa hoàn thiện toàn bộ nhưng đã hết dột. Năm ngăn trưng bày nằm dọc bức tường cũ. Ngăn của Mặc Chi để trống, chỉ có một dòng do chính ông cho phép: Chủ nhân chọn không trưng bày. Khoảng trống ấy thu hút nhiều người dừng lại hơn cả những tủ có đồ. Cuống vé của Duy Khang được trưng bằng ảnh. Tĩnh Văn có một thiết bị nghe nhỏ phát câu nói đã duyệt. Cuống vé của Giang Tự Hành nằm trong tủ có đồng hồ đếm thời hạn ba tháng. Chiếc vali xanh rêu ở ngăn cuối, cạnh chiếc áo đã trả cho mẹ bằng một ảnh chụp mặt ngoài, không lộ túi bí mật. Tấm vé của tôi không nằm đó. Tôi giữ nó trong túi giấy, chưa viết điểm đến. Không phải vì do dự. Tôi chỉ muốn lần đầu viết lên nó không phục vụ một buổi khai trương. Khả Nghi vẫn phụ trách truyền thông, nhưng mọi nội dung phải qua bảng đồng quản lý. Cô không trở thành bạn của tôi. Chúng tôi làm việc được với nhau vì quyền hạn đã rõ. Có lần cô nói mô hình mới khiến việc sản xuất chậm gấp đôi. Tôi đáp chậm còn hơn lấy nhanh thứ không thuộc về mình. Cô không cười, nhưng cũng không phản bác. Bội San nhận hình thức cảnh cáo từ quỹ và tham gia số hóa sổ kho dưới giám sát. Bà nói lần này mọi sửa đổi đều để lại dấu, như vậy tốt hơn trí nhớ của những người tưởng mình đang bảo vệ ai đó. Duy Khang tới ngày mở cửa, chống gậy đi hết phòng chờ. Ông đứng trước ngăn trống của Mặc Chi rồi bảo đó là hiện vật trung thực nhất. Mẹ không tới buổi sáng. Bà mở tiệm như thường lệ. Chiều, bà mang đến một tấm rèm nhỏ may bằng vải áo cũ, tặng khu đọc thư. Bà không kể nó từng thuộc về ai. Bảng đồng quản lý ghi đúng một dòng: Người tặng cho phép sử dụng, không công bố nguồn vải. Còn tôi trở lại quầy hành lý thất lạc. Ngày đầu đi làm sau dự án, cậu đồng nghiệp hỏi tôi có lo chuyện lá thư ảnh hưởng công việc không. Tôi nói có. Sau đó tôi tự nộp bản giải trình về xung đột lợi ích trong hồ sơ chiếc vali. Bộ phận kiểm soát xem xét, kết luận tôi đã niêm phong và bàn giao đúng quy trình từ khi vật vào ga. Lời nói dối gia đình không bị biến thành lỗi nghiệp vụ, nhưng tôi vẫn phải chấp nhận ánh nhìn và câu hỏi. Danh dự không được cứu bằng một bài phát biểu. Nó được xây lại bằng những ngày làm việc không né tránh. Cuối tháng, tôi nhận ngày nghỉ bù đầu tiên. Sáng đó, tôi tới ga sớm hơn giờ hẹn mười phút. Giang Tự Hành đã đứng dưới bảng giờ tàu, không mang ống bản vẽ. “Anh đến sớm,” tôi nói. “Cô cũng vậy.” “Tôi làm ở đây.” “Hôm nay cô nghỉ.” “Anh bắt đầu biết tranh luận rồi.” Anh nhìn túi giấy trong tay tôi. “Cô mang tấm vé?” “Ừ.” Tôi mua hai vé thật đi một thị trấn ven hồ, cách Hàng Châu chưa đầy một giờ. Không phải chuyến đi lớn. Không có lời hứa đổi đời. Chỉ là nơi tôi từng muốn đến ăn cá hấp nhưng luôn hoãn vì ca trực. Chúng tôi ngồi ở hàng ghế gần cửa sổ. Trước khi tàu chạy, tôi lấy tấm vé cũ ra. Ô điểm đến vẫn trắng. Tôi dùng bút viết tên thị trấn ven hồ vào đó, nét đầu hơi run. Giang Tự Hành không nhìn trộm. Anh chờ tôi đặt bút xuống mới hỏi: “Cô chắc chứ?” “Chắc cho hôm nay.” “Thế là đủ.” Tôi đặt tấm vé cũ cạnh hai vé thật. Mười bảy năm, tôi đã nghĩ câu trả lời phải là một nơi cha từng đi, một lý do đủ lớn hoặc một lời xin lỗi có thể làm quá khứ đổi khác. Cuối cùng, thứ ông để lại không đưa tôi về phía ông. Nó đưa quyền lựa chọn trở lại tay tôi, muộn màng và không hoàn hảo. Tôi quay sang Giang Tự Hành. “Hôm trước anh nói muốn hỏi lại.” “Về bữa ăn không có hồ sơ?” “Về việc có muốn tỏ tình vào ngày khác hay không.” Anh im lặng hai giây, như thể vẫn muốn chắc tôi không nói đùa. “Tôi muốn,” anh nói. “Nhưng trước đó, tôi cần nói rõ một việc. Tôi thích cô không phải vì Cảnh Sơn, chiếc vali hay dự án. Tôi thích cách cô nhìn một vết xước rồi vẫn hỏi người sở hữu muốn gì. Tôi cũng biết có những lúc cô sẽ tự quyết định thay người khác vì sợ mất họ. Khi đó tôi sẽ nhắc, nhưng không kiểm soát cô.” “Tới lượt tôi chứ?” “Xin mời.” “Tôi thích anh không phải vì anh giữ bí mật giỏi. Phần đó khá đáng ghét. Tôi thích việc anh đứng gần nhưng luôn chừa đường ra. Tôi không hứa sẽ kể anh mọi thứ ngay lập tức. Tôi chỉ hứa nếu điều gì thuộc quyền anh được biết, tôi sẽ không gọi im lặng là bảo vệ.” “Thỏa thuận hợp lý.” “Đây không phải hợp đồng.” “Vậy tôi có được nắm tay cô không?” Tôi chìa tay ra. Tàu bắt đầu chuyển bánh. Tiếng kim loại qua chỗ đổi ray vẫn giống một cánh cửa mở, nhưng lần này tôi không nghe nó như quá khứ tràn vào. Ngoài cửa sổ, ga Hàng Châu Đông lùi dần. Những đường ray tách ra, nhập lại, mỗi đường đều có điểm đến được ai đó chọn và trả giá để đi. Tôi giữ tấm vé cũ trong túi giấy, giữ tay Giang Tự Hành trong tay mình, rồi nhìn về phía trước. Lần này, không ai viết hộ tôi nơi phải đến.