vẫn chưa làm mất lòng tin vào lựa chọn của chính mình, đừng để bất kỳ ai đọc phần còn lại thay con. Năm mười hai tuổi, tôi đã đọc câu ấy dưới ánh đèn bếp. Rồi tôi nhìn mẹ ngồi bên cửa sổ, vá chiếc áo cha để quên, và quyết định giấu lá thư. Tôi nghĩ mình đang bảo vệ bà khỏi câu kế tiếp: Đừng chờ cha. Tôi nói dối rằng người đưa thư nhầm địa chỉ. Mẹ tin tôi. Mười bảy năm sau, một người xa lạ lặp lại ý trong thư ngay giữa ga tàu. Bí mật tôi chôn dưới lớp vải lót của hộp kim chỉ đột nhiên có thêm một nhân chứng. Tôi yêu cầu mở vali theo quy trình vật chứng có tranh chấp. Có nhân viên an ninh, một đồng nghiệp và Giang Tự Hành chứng kiến. Máy ghi hình bắt đầu chạy. Tôi cắt niêm phong mới của nhà thầu, không đụng vào dải vải buộc cũ. Ổ khóa không cần mã. Chỉ cần ấn lệch sang trái, lẫy gãy sẽ bật ra. Tôi biết vì hồi nhỏ chính tôi làm nó hỏng, sau một lần nhốt con mèo của khu tập thể vào vali rồi hoảng hốt không mở được. Cha đã tháo lẫy, cười bảo từ nay chiếc vali này chỉ khóa được người không biết bí mật. Nắp bật lên. Mùi vải cũ và gỗ ẩm thoát ra, không giống mùi của một người, chỉ giống một căn phòng đóng quá lâu. Bên trong có chiếc áo khoác xám, được gấp ngay ngắn. Lớp lót đáy may bốn khe dài, cả bốn đều trống. Trên áo là một tấm vé giấy đã ngả vàng. Mặt trước có ngày nhưng không có năm. Ô nơi đi ghi ga Thanh Phổ. Ô điểm đến bỏ trắng. Mặt sau là ba chữ Tạ Minh Ý, nét bút hơi nghiêng mà tôi từng nhìn thấy trên từng tờ đơn xin nghỉ học cha viết hộ. Không có lời nhắn. Không có địa chỉ. Không có câu trả lời nào đủ lớn cho mười bảy năm. Tôi bật cười một tiếng khô khốc. “Ông ấy để lại cho tôi một tấm vé không biết đi đâu.” Giang Tự Hành đứng ngoài vạch kiểm tra. “Có thể điểm đến không phải phần dành cho ông ấy viết.” “Anh biết ý nghĩa của nó.” “Tôi biết một