đi ghi Thanh Phổ. Điểm đến trống. Mặt sau viết tên Bành Duy Khang. Tôi đặt ảnh tấm vé của mình cạnh nó. Giấy cùng loại. Nét chữ cùng một người. “Cha tôi đưa chú tấm này khi nào?” “Sau vụ sạt lở. Tôi bị thương ở chân, bị đơn vị chuyển sang việc bàn giấy. Tôi nghĩ mình thành đồ thừa, định bỏ về quê. Cảnh Sơn tới bệnh xá, cắt một mẩu vé cũ rồi bảo tôi tự viết nơi muốn đến.” “Chú đã viết gì?” “Không viết.” “Vì sao?” Duy Khang cười, gõ lên chân mình. “Tôi nhận ra mình không muốn đi đâu cả. Tôi muốn ở lại, nhưng làm theo cách khác. Tôi học sửa máy nhỏ, sau này phụ trách xưởng dụng cụ. Tấm vé này không đưa tôi đi. Nó bắt tôi ngừng đổ quyết định của mình cho hoàn cảnh.” Tôi hỏi điều mình sợ nhất. “Lúc đó cha tôi còn tỉnh táo?” “Rất tỉnh.” “Ông ấy có thể viết thư?” “Có.” “Có thể nhờ người báo cho gia đình?” Duy Khang nhìn xuống hộp trà. “Có.” Một câu trả lời đơn giản đủ làm căn phòng chật đi. Suốt nhiều năm, tôi từng bào chữa cho cha bằng những tai nạn mình tự tưởng tượng. Có thể ông hôn mê. Có thể ông mất trí nhớ. Có thể ông qua đời trước khi kịp gọi về. Duy Khang vừa đóng tất cả những cánh cửa đó. “Vậy vì sao ông ấy không về?” “Tôi không biết toàn bộ. Tôi chỉ biết Cảnh Sơn bị thương nặng hơn tôi. Ông ấy sợ trở thành gánh nặng.” “Tự quyết định biến mất để người khác khỏi gánh, nghe cao thượng thật.” Duy Khang ngẩng lên. “Không. Đó là quyết định hèn. Tôi từng nói thẳng như vậy. Cảnh Sơn giúp người khác chọn đường, nhưng đến lượt gia đình mình, ông ấy lại chọn thay tất cả.” Tôi không ngờ mình được nghe câu ấy từ bạn của cha. Không có sự bao che, cũng không có lời kết tội dễ dãi. Duy Khang đưa cuống vé cho tôi xem nhưng không trao hẳn. “Đây là của tôi. Cô có thể chụp để đối chiếu, không được mang đi.” “Tôi hiểu.” “Cảnh Sơn dặn mỗi người tự giữ. Nếu sau này ai gom hết lại để kể thành chuyện đẹp, phải hỏi từng người trước.” Tôi