Trên mép dán không có lời thúc giục, chỉ có mã hồ sơ và tên tôi. Có lẽ vì mệt, có lẽ vì cuống vé của Duy Khang, tôi nói: “Cha từng gửi một lá thư về nhà.” Bàn tay Giang Tự Hành dừng trên đôi đũa. “Cô đã đọc?” “Đọc câu đầu.” “Còn lá thư?” “Tôi không muốn nói.” Anh gật đầu. “Được.” Chỉ một chữ đó khiến tôi thấy mình vừa được trả lại thứ gì. Anh không hỏi tiếp, không đoán, không bảo lá thư có thể quan trọng cho hồ sơ. Tôi đã quen với những người nghe thấy một bí mật là lập tức nghĩ mình có quyền bước vào. Chiều hôm ấy, tôi mang chiếc áo khoác trong vali đến tiệm sửa quần áo của mẹ theo biên bản mượn hiện vật. Tiệm nằm trong con phố nhỏ, cửa kính dán đầy mẫu gấu quần và cổ áo. Mẹ ngồi sau máy may, vòng đệm kim trên cổ tay. Bà nhìn chiếc áo chưa đầy một giây đã đứng bật dậy. “Con lấy ở đâu?” “Kho hành lý chuyển tới.” Mẹ chạm vào đường chỉ hổ phách ở cổ tay áo. Ngón tay bà run, nhưng giọng không run. “Mẹ khâu.” “Con biết.” “Không, con không biết.” Bà lật cổ tay áo ra. “Đường chỉ ngoài là của mẹ. Đường may trong không phải. Có người đã tháo ra rồi khâu lại.” Tôi cúi sát. Hai lớp chỉ cùng màu, nhưng mũi trong dài hơn, vụng hơn. “Cha mặc áo này khi rời nhà không?” “Không. Hôm đó trời nóng. Áo để trong vali, nhưng ông ấy chỉ mang túi dụng cụ. Sau này có người tới lấy vali, nói sẽ chuyển lên bệnh xá.” “Ai?” “Mẹ không nhớ tên. Một cô gái trẻ làm ở kho ga.” Bội San. Mẹ vuốt phẳng vai áo. “Cảnh Sơn còn sống sau hôm đó, đúng không?” Tôi có thể nói chưa chắc. Tôi có thể bảo cần xác minh thêm. Tôi đã dùng những câu như vậy hàng nghìn lần trong công việc để không trao hy vọng sai cho người mất đồ. Nhưng mẹ không hỏi với tư cách khách hàng. “Vâng. Ít nhất là vài tháng.” Bà khép mắt. Khi mở lại, bà không khóc. “Ông ấy có gửi gì không?” Lá thư nằm dưới lớp vải lót hộp kim chỉ, cách tay mẹ có lẽ chưa