đức tính.” “Ông ấy nói về gia đình không?” “Có.” “Nói gì?” “Rằng ông ấy sợ trở về trong tình trạng phải để vợ con chăm sóc. Ông ấy tin nếu biến mất, hai người sẽ giận rồi sống tiếp nhanh hơn.” Tôi siết mép hồ sơ. “Chúng tôi đã không sống tiếp nhanh hơn.” “Tôi biết.” “Anh không biết.” Giang Tự Hành im lặng. Tôi hít sâu. “Xin lỗi. Anh không đáng nhận câu đó.” “Tôi không biết như cô. Nhưng tôi biết Cảnh Sơn sai. Ông ấy biến nỗi sợ của mình thành quyết định cho hai người. Việc ông ấy nhận ra sau này không xóa được hậu quả.” “Ông ấy có nhận ra?” “Có. Lá thư cuối được viết sau cuộc nói chuyện ấy.” Tôi quay phắt sang. “Anh đã đọc?” “Không. Cảnh Sơn đọc cho tôi nghe câu đầu vì sợ mình lại dùng lời xin lỗi để bắt người khác tha thứ. Phần còn lại ông ấy niêm phong.” Vậy là Giang Tự Hành không biết nội dung. Bí mật lớn nhất giữa chúng tôi vẫn do tôi giữ. Chúng tôi quay lại kho tìm Bội San. Lần này tôi đặt trước bà năm ảnh: vali, trang sổ bị sửa, bốn cuống vé và áo khoác có đường may hai lớp. “Tôi không cần bà kể thay cha tôi,” tôi nói. “Tôi chỉ cần nguồn gốc từng vật. Ai đưa vali cho bà? Ai khâu lại áo? Ai chuyển thư?” Bội San ngồi rất lâu. Cuối cùng bà kéo cuốn sổ về. “Tôi sửa số kho.” “Tại sao?” “Sau khi Cảnh Sơn qua đời, bệnh xá còn một khoản chi chưa quyết toán. Một người tự nhận đại diện chủ nợ đến lục đồ. Tôi sợ họ lấy vali nên đổi số trong sổ và xé trang bàn giao.” “Đó là người bảo vệ sai cách thứ mấy trong câu chuyện này rồi?” Bội San cúi đầu. “Tôi biết. Lúc ấy tôi nghĩ chỉ giấu vài ngày. Rồi ga đóng. Hồ sơ chuyển. Càng lâu càng khó nói.” “Ai may lại áo?” “Cảnh Sơn. Ông ấy giấu một tờ danh sách trong túi lót, bảo chỉ người khâu đường chỉ ban đầu mới nhận ra.” “Mẹ tôi.” “Có lẽ.” “Ai chuyển thư?” “Tôi.” Tôi thấy cổ họng khô lại. “Bà đưa tận nhà?” “Tôi gặp một bé gái ở cổng khu tập thể. Con bé nói là