Ngày thứ tư, tôi dán ba tờ giấy lớn lên tường phòng khách. Giữ lại. Gửi kho. Bỏ. Lục Cảnh Hòa bước vào, đặt hai cốc sữa đậu nành lên bàn rồi nhìn cách phân loại của tôi. “Vì sao chậu nhài ở mục bỏ?” “Rễ đã chật, cành cũng khô quá nửa.” “Có thể thay đất.” “Anh đang nói về cây hay nói chuyện khác?” “Cây.” Anh trả lời nhanh đến mức tôi thấy mình mới là người nghĩ nhiều. Tôi cầm bút, chuyển hai chậu nhài sang mục giữ lại. Lục Cảnh Hòa không cười, nhưng anh lấy điện thoại ghi thêm một việc vào danh sách. Tôi nghiêng đầu nhìn. “Thay đất cho nhài.” “Đó là việc của tôi.” “Anh biết chỗ mua đất.” “Anh có thể gửi địa chỉ.” “Được.” Anh xóa tên mình khỏi dòng phân công, gửi địa chỉ cho tôi rồi tiếp tục buộc sách. Việc nhỏ đến mức nếu là trước đây, có lẽ anh đã tự mua, tự thay và chỉ báo khi chậu cây xanh lại. Lần này anh để tôi quyết định cả việc có cứu chúng hay không. Chúng tôi dọn đến chiếc tủ thấp cạnh cửa ban công. Bên trong là một đống hộp bánh, dây ruy băng và sổ tay từ thời tôi đi học. Tôi mở một chiếc hộp thiếc, thấy hai tấm vé vào vườn cây, ba huy hiệu trường và một viên bi thủy tinh xanh. “Viên bi này của anh.” “Anh thua em.” “Anh cố tình thua.” “Không.” “Anh học lớp sáu, tôi học lớp bốn. Làm sao anh thua được?” “Vì em gian lận.” Tôi ném viên bi về phía anh. Cảnh Hòa bắt được bằng một tay, ánh mắt cuối cùng cũng có ý cười. “Vậy càng không phải anh cố tình.” “Tôi giữ nó nhé?” Anh nhìn viên bi trong tay rồi đặt vào hộp của tôi. “Em thắng thì thuộc về em.” Tôi lật tiếp vài trang sổ. Có một danh sách rất trẻ con, chữ tôi xiêu vẹo: những việc Lục Cảnh Hòa phải làm khi lên cấp hai. Không được quên đón tôi sau giờ học. Không được cho bạn nữ khác mượn xe. Không được ăn mì cay mà không gọi tôi. Dòng cuối cùng viết bằng mực đỏ: không được có em gái khác. Tôi lập tức gập sổ. “Gửi kho,” tôi nói. “Anh chưa nhìn thấy.” “Anh nhìn rồi.” “Chưa đọc hết.” “Phần còn lại là bí mật trẻ con.” “Bí mật của em hay của hai đứa?” “Tôi viết, nên của tôi.” Cảnh Hòa gật đầu. “Vậy em giữ quyền.” Anh quay sang chiếc thùng khác, không cố giằng cuốn sổ. Tôi lại thấy hụt hẫng vô lý. Khi anh tự quyết, tôi khó chịu. Khi anh tôn trọng, tôi lại muốn anh hỏi thêm. Tôi mở sổ lần nữa. Sau danh sách của tôi là một dòng chữ ngay ngắn hơn, chắc chắn do Cảnh Hòa viết năm ấy. Đồng ý bốn việc đầu. Việc cuối chờ em giải thích thế nào là em gái khác. Tôi ngẩng lên. “Anh đã đọc từ lâu rồi.” “Anh ký vào đó.” “Vì sao tôi không nhớ?” “Em giận vì anh không đồng ý ngay dòng cuối, ném sổ vào anh rồi chạy về nhà.” “Vậy anh giải thích chưa?” “Chưa. Em không cho cơ hội.” Tôi khép sổ, lần này đặt vào thùng giữ lại. Đến tối, hai chậu nhài nằm cạnh nhau ở góc ban công. Cảnh Hòa đứng phía bên kia bức tường, nhìn tôi tự thay đất theo hướng dẫn anh gửi. Anh chỉ lên tiếng khi tôi định nén đất quá chặt. “Để rễ có chỗ thở.” “Tôi biết.” “Em đang dùng cả hai tay ấn xuống.” “Tôi đang làm cho chắc.” “Chắc quá thì cây không sống được.” Tôi dừng tay. “Anh lại chỉ nói về cây à?” Lần này anh im lâu hơn. “Không hẳn.” Tôi quay mặt đi, giả vờ phủi đất khỏi tay. Những cánh hoa nhài còn sót lại rung trong gió. Hai chậu cây từ nhỏ vẫn đặt ở hai phía, chưa bao giờ nhập thành một. Rễ của chúng không quấn vào nhau, nhưng cành đã nhiều lần vươn qua bức tường. Sáng ngày thứ năm, tôi thức dậy vì mùi sữa đậu nành nóng. Một cốc giấy được chuyền qua khe hẹp bên cạnh cánh cửa khóa. Bàn tay Cảnh Hòa vẫn giữ đáy cốc để tôi cầm cho chắc. “Anh không vào nhà?” “Em chưa gõ cửa.” “Tôi cũng chưa gọi đồ ăn sáng.” “Anh mua cho anh. Cửa hàng đưa hai cốc vì có khuyến mãi.” Tôi nhìn sang, thấy trên bàn anh chỉ có một cốc. “Khuyến mãi của anh biết tên tôi à? Trên nắp ghi Vãn Chi, không đường.” “Cô bán hàng nhớ em.” “Tôi bảy năm chưa về.” “Anh nhắc.” Tôi nhận cốc, hơi nóng áp vào lòng bàn tay. “Anh chăm em gái nhà nào cũng kỹ thế sao?” Cảnh Hòa vẫn đứng bên kia khe cửa. Ánh sáng sớm rơi lên sống mũi anh, làm vẻ mặt bình tĩnh trở nên lạnh hơn. “Anh không có em gái.” “Người lớn vẫn gọi tôi như thế.” “Đó là cách họ gọi.” “Còn anh gọi tôi là gì?” “Vãn Chi.” “Chỉ một cái tên?” “Em muốn thêm gì?” Tôi uống một ngụm quá vội, nóng đến phải quay đi ho. Cảnh Hòa lập tức mở cửa kính phía anh, nhưng anh không thử đẩy cánh cửa nhỏ ở giữa. Anh chỉ hỏi từ bên kia. “Có cần nước lạnh không?” “Không.” “Có đau không?” “Không.” “Vậy uống chậm thôi.” Tôi đóng cửa kính, ôm cốc vào phòng. Trên nắp, tên tôi được viết bằng nét bút đen. Tôi biết đó không phải chữ cô bán hàng. Nét cuối tên tôi hơi kéo lên, giống hệt cách Cảnh Hòa ghi trên vở bài tập năm xưa. Buổi chiều, tôi nhận tin nhắn của Trịnh Tuệ, bạn học cấp ba đang làm giáo viên gần đó. Cô ấy nghe tin tôi về nên hẹn ăn mì. Tôi đồng ý, rồi bất ngờ khi đến quán lại thấy Cảnh Hòa đã ngồi đối diện cô ấy. “Đừng nhìn tôi,” Trịnh Tuệ nói. “Tôi gặp anh ấy ngoài cửa. Hai người ở sát nhau mà còn đến riêng, đúng là lãng phí xăng.” “Tôi đi bộ.” “Cảnh Hòa cũng đi bộ.” Tôi ngồi xuống cạnh Trịnh Tuệ thay vì cạnh anh. Cô ấy nhìn qua nhìn lại, cười như đã tìm được chuyện thú vị. “Vẫn cãi nhau à?” “Chúng tôi có cãi đâu.” “Ngày trước cũng nói thế. Cả lớp chỉ cần nhắc tên Vãn Chi là Cảnh Hòa nghiêm mặt.” Tôi khuấy bát mì. “Anh ấy luôn nghiêm mặt.” “Không giống nhau. Năm lớp mười hai, có mấy bạn cá cược xem ai tỏ tình với Vãn Chi trước. Cảnh Hòa đến tận lớp tôi, nói cô ấy là người nhà của cậu ấy, đừng đem ra làm trò.” Chiếc thìa trong tay tôi chạm vào thành bát. Tôi nhớ buổi chiều đó. Tôi đứng ngoài hành lang, chỉ nghe được câu cuối qua cửa sổ: Vãn Chi là người nhà của tôi. Khi ấy, trong cặp tôi có một phong thư chưa gửi. Tối về, tôi xé phong bì, giấu bản nháp vào một cuốn sách rồi đăng ký trường đại học xa Tô Châu hơn dự định. Trịnh Tuệ không nhận ra sắc mặt tôi thay đổi, nói tiếp: “Sau đó chẳng ai dám trêu nữa. Nhưng tôi thấy cậu ấy—” “Đủ rồi,” Cảnh Hòa ngắt lời. Tôi nhìn anh. “Sao lại đủ? Chuyện đẹp về một người anh bảo vệ em gái mà.” Trịnh Tuệ cuối cùng cũng nhận ra không khí không đúng. Cô ấy cúi đầu ăn mì, còn Cảnh Hòa đặt đũa xuống. “Vãn Chi, câu ấy không có nghĩa như em nghĩ.” “Tôi nghĩ gì?” “Em nói đi.” “Anh là người đã nói. Tại sao lại bắt tôi giải thích?” “Vì mỗi lần anh định giải thích, em đều dùng đúng hai chữ ấy để đóng câu chuyện lại.” Tôi bật cười. “Anh trai à?” Cảnh Hòa không cười. Trịnh Tuệ vội nói mình phải quay lại trường. Cô ấy thanh toán phần của mình rồi chạy nhanh đến mức quên cả khăn giấy. Tôi ngồi lại, cảm giác bát mì trước mặt đã nguội hẳn. “Anh có thể giải thích bây giờ,” tôi nói. Cảnh Hòa nhìn tôi. “Em có thể nghe hết không?” Câu hỏi ấy khiến tôi nhớ đến phong thư bị giấu trong sách. Tôi sợ nếu anh nói hết, tôi sẽ phát hiện mình đã hiểu lầm suốt chín năm. Tôi càng sợ nếu anh nói hết mà ý nghĩa vẫn đúng như tôi từng nghĩ. “Không cần,” tôi đáp. “Chuyện cũ rồi.” “Vãn Chi.” “Tôi còn cuộc họp.” Tôi đứng dậy trước khi anh ngăn lại. Nhưng Cảnh Hòa không ngăn. Anh chỉ ngồi đó, nhìn tôi rời quán. Tối ấy, anh không sang dọn nhà. Gần chín giờ, tôi nhận một tin nhắn ngắn. Em nói có cuộc họp. Anh không muốn làm phiền. Khi nào cần, gõ ba tiếng. Tôi bực mình vì anh nghe lời. Tôi cũng bực mình vì chính mình không biết muốn anh làm gì khác. Ngày thứ bảy, mẹ tôi đến cùng hai tập hồ sơ. Tống Mẫn Lan mặc bộ váy công sở màu xanh đậm, tóc buộc gọn, bước vào nhà rồi lập tức cau mày vì số thùng đã mở nhiều hơn số thùng đóng. “Con xin thêm bảy ngày để làm gì? Ngồi đọc từng quyển sách à?” “Để quyết định.” “Mẹ đã tính hết rồi. Giá bán hiện tại đủ để con trả trước một căn nhỏ ở Thượng Hải. Giữ nhà ở đây chỉ tốn tiền sửa.” “Nhà đứng tên con.” “Nhưng mẹ đang nghĩ cho con.” “Mẹ nghĩ thay con.” Mẹ tôi đặt hồ sơ lên bàn. “Hai việc đó khác nhau ở đâu?” Tôi còn chưa trả lời thì tiếng gõ cửa vang lên. Lục Cảnh Hòa đứng ngoài với một túi đất trồng cây. Anh nhìn thấy mẹ tôi, dừng lại. “Dì Mẫn Lan.” Mẹ tôi lập tức dịu giọng. “Cảnh Hòa đến đúng lúc. Cháu xem giúp dì phần giấy xác nhận hiện trạng. Vãn Chi không hiểu mấy thứ này. Cháu ký nhận thay nó cũng được.” Cảnh Hòa đặt túi đất ngoài cửa, không bước vào. “Cháu không ký thay được.” “Chỉ là xác nhận căn nhà cần sửa.” “Căn nhà thuộc Vãn Chi. Việc bán hay giữ cũng thuộc cô ấy.” “Mọi người trong nhà với nhau, cháu cần gì khách sáo?” “Chính vì là người nhà nên càng không nên lấy sự thân thiết thay cho quyền đồng ý.” Mẹ tôi im lặng. Tôi chưa từng nghe Cảnh Hòa nói với bà bằng giọng cứng như thế. Anh không đứng chắn trước tôi, không giật hồ sơ hay tuyên bố sẽ lo mọi việc. Anh chỉ trả chúng về đúng tay tôi. Tôi mở tập giấy, đọc từng trang. Những mục khó hiểu đều có dòng giải thích ngắn do Cảnh Hòa đã viết trước bằng từ đời thường. Đường ống có thể rò. Lan can cần gia cố. Cánh cửa ban công không được mở lại nếu chưa có sự đồng ý của hai chủ nhà và kiểm tra an toàn. Mẹ tôi ngồi xuống ghế. “Con thật sự muốn giữ à?” “Con chưa biết. Nhưng con muốn dùng đủ ba mươi ngày.” “Nếu người mua bỏ đi?” “Con chịu hậu quả.” “Nếu sửa nhà tốn tiền?” “Con sẽ tự tính.” “Con có chắc không?” Tôi nhìn chiếc chìa khóa trên kệ. “Con chắc rằng quyết định phải do con đưa ra.” Mẹ tôi không vui, nhưng bà gấp hồ sơ lại. “Được. Ba mươi ngày. Sau đó đừng nói mẹ không nhắc.” Khi mẹ rời đi, tôi mới nhận ra mình đã nắm bút chặt đến đau tay. Cảnh Hòa vẫn đứng ngoài cửa. “Anh có thể vào,” tôi nói. “Em có chắc không?” “Anh hỏi câu đó nhiều quá.” “Anh đang học.” Tôi tránh sang một bên. “Vào thay đất cho chậu cây. Tôi làm hỏng một chậu rồi.” “Anh hướng dẫn.” “Lần này anh làm đi. Tôi cho phép.” Cảnh Hòa cúi xuống xách túi đất. Khi đi ngang qua, anh nói rất khẽ. “Em vừa làm tốt.” “Chỉ là nói với mẹ tôi thôi.” “Ngày trước em luôn nhờ anh nói.” Tôi nhớ những lần mình trốn sau lưng anh vì làm vỡ cửa kính, vì không muốn học đàn, vì muốn đi chuyến dã ngoại mà mẹ không đồng ý. Có lẽ chúng tôi trở thành người nhà không chỉ vì hai gia đình gọi như thế. Tôi đã nhiều lần trao cho anh vai người bảo vệ, rồi trách anh khi vai ấy che mất điều khác. “Từ giờ tôi tự nói,” tôi đáp. “Được.” “Nhưng nếu tôi nói sai thì sao?” “Anh nghe rồi nói phần của anh. Không nói thay.” Câu ấy là phần thưởng lớn hơn mọi lời chống lưng. Tối ngày thứ chín, một cơn mưa lớn tràn qua Tô Châu. Nước tạt vào ban công vì ống thoát bị lá cây chặn. Tôi đang kéo hai chậu nhài vào thì một chậu nghiêng khỏi giá. Cảnh Hòa từ phía bên kia đưa tay giữ đúng lúc, nhưng bức tường khiến anh không thể nhấc hẳn sang. “Đưa chìa khóa đây,” anh nói. Tôi chạy lấy chiếc chìa nhỏ. Ổ khóa gỉ cứng, xoay hai lần không nhúc nhích. Cảnh Hòa không giằng lấy. Anh chỉ hướng dẫn tôi nhấc chốt lên một chút rồi xoay ngược lại. Sau tiếng rít khô, cánh cửa mở được một khe. Chúng tôi cùng giữ chậu cây, mỗi người một phía. Mưa làm tóc tôi ướt dính vào má. Cảnh Hòa với tay gạt cành nhài khỏi cổ tôi rồi dừng lại trước khi chạm da. “Anh có thể không?” Tôi hiểu anh hỏi gì, khẽ gật đầu. Ngón tay anh lướt qua tóc tôi, rất nhẹ. Chỉ một động tác nhỏ, nhưng tôi đứng yên như thể vừa nghe tiếng sấm ngay bên tai. Hai chậu nhài cuối cùng cũng được đặt xuống nền an toàn. Cảnh Hòa không bước qua cánh cửa. Anh vẫn ở phía nhà mình. “Ngày em thi đại học cũng mưa thế này,” anh nói. “Tôi nhớ. Điện chập chờn, anh bật đèn cả đêm.” “Em khóc lúc ba giờ.” “Tôi không khóc.” “Em gõ ba tiếng rồi lại một tiếng.” “Tôi chỉ muốn biết anh còn thức không.” “Anh còn.” Tôi nhìn chiếc đèn bàn sau lưng anh. “Vì sao anh chưa từng nói muốn tôi ở lại Tô Châu?” Cảnh Hòa tựa tay lên khung cửa. “Khi ấy em chưa từng hỏi anh muốn gì.” “Anh cũng chưa từng hỏi tôi.” “Anh nghĩ em muốn đi.” “Tôi nghĩ anh muốn tôi đi.” Mưa đập lên mái che, lấp khoảng im lặng giữa chúng tôi. Hai người nhớ mọi chi tiết về nhau, vậy mà lại bỏ lỡ câu hỏi quan trọng nhất. Cảnh Hòa nhìn tôi. “Bây giờ anh hỏi. Em có muốn ở lại không?” Tôi chưa kịp đáp thì điện thoại anh rung. Trên màn hình hiện tên Hạ Thanh Du. Anh không giấu. “Đồng nghiệp.” “Tôi đâu hỏi.” “Em nhìn thấy.” “Anh cứ nghe.” Cảnh Hòa nhận cuộc gọi. Thanh Du nói đủ lớn để tôi nghe vài câu về hồ sơ Thâm Quyến và hạn trả lời. Anh chỉ đáp sáng mai sẽ gặp. Sau khi cuộc gọi kết thúc, tôi hỏi: “Anh định đi Thâm Quyến?” “Có một dự án một năm.” “Anh đã biết từ trước khi tôi về?” “Biết.” “Vậy câu chưa quyết định là nói dối.” “Anh chưa ký.” “Nhưng anh định đi.” Cảnh Hòa không phủ nhận. Tôi khép cánh cửa ban công lại. “Tôi lạnh rồi.” “Vãn Chi.” “Mai nói.” Lần này tôi giữ công tắc đèn một nhịp dài. Đừng sang. Sáng hôm sau, Hạ Thanh Du đến căn hộ bên cạnh. Tôi đang phân loại quần áo thì nghe tiếng chuông cửa nhà Cảnh Hòa. Khoảng nửa giờ sau, cô ấy xuất hiện ngoài ban công cùng anh. Thanh Du có mái tóc ngắn, mặc áo khoác màu kem, tay ôm một tập hồ sơ. Cô ấy nhìn thấy tôi trước, chủ động chào. “Chị là Tống Vãn Chi phải không? Tôi là Hạ Thanh Du, làm cùng nhóm với Cảnh Hòa.” “Chào cô.” “Tôi mang giấy xác nhận dự án. Anh ấy có mười ngày để trả lời. Nếu nhận, đầu tháng sau chúng tôi sẽ đến Thâm Quyến khảo sát.” Cô ấy nói rất tự nhiên, không có vẻ khoe khoang hoặc thăm dò. Chính điều đó khiến tôi không thể ghét cô ấy cho dễ chịu. “Tôi nghe Cảnh Hòa nói chị đang quyết định chuyện căn hộ,” Thanh Du tiếp. “Phương án ban công anh ấy sửa ba lần rồi. Tôi chưa từng thấy anh ấy cẩn thận với một cánh cửa nhỏ như thế.” Cảnh Hòa nhìn cô ấy. “Thanh Du.” “Tôi chỉ nói sự thật.” Cô ấy đưa hồ sơ cho anh. “Mười ngày. Đừng để công ty phải đoán.” Sau khi Thanh Du đi, tôi bước sang phòng khách nhà Cảnh Hòa bằng cửa chính. Đây là lần đầu tiên tôi vào căn hộ anh kể từ khi trở về. Mọi thứ gọn đến mức lạnh. Chỉ chiếc đèn bàn cũ và một kệ đồ liên quan đến tôi phá vỡ vẻ lạnh lẽo ấy. Trên đó có huy hiệu trường, ảnh hai chậu nhài và một con thỏ gỗ tôi khắc lệch tai. “Anh giữ những thứ này để làm gì?” “Anh đã nói rồi. Những thứ không thuộc quyền anh bỏ.” “Con thỏ là tôi tặng anh.” “Vậy thuộc anh.” “Thế anh có quyền bỏ.” “Anh không muốn.” Tôi quay sang. “Còn dự án Thâm Quyến?” “Anh muốn nhận.” Câu trả lời thẳng khiến tôi đau hơn lời né tránh. “Vậy nhận đi.” “Anh sẽ quyết theo công việc. Không phải để rời em, cũng không phải vì em mà bỏ.” “Tôi có bảo anh bỏ đâu.” “Anh biết.” “Vậy cần gì giải thích?” “Vì anh không muốn em lại tự điền vào chỗ anh im lặng.” Tôi nhìn xuống tập hồ sơ trên bàn. Bên cạnh là phương án sửa ban công. Trên trang đầu có hai ô chữ ký, một cho chủ căn hộ của tôi, một cho chủ căn hộ nhà anh. Dòng ghi chú được khoanh rõ: mọi thay đổi ở bức tường và cánh cửa phải có sự đồng thuận của cả hai bên. “Tại sao anh không ghi cứ phá đi cho tiện?” tôi hỏi. “Vì cửa mở sang nhà anh, nhưng một nửa khung nằm trên phần tường nhà em.” “Tôi không hỏi về kỹ thuật.” Cảnh Hòa nhìn tôi. “Vì anh không muốn giữ em bằng một cánh cửa em không chọn mở.” Tôi chạm vào hai ô chữ ký. Suốt những ngày qua, tôi vẫn nghi anh dùng căn nhà và ký ức để kéo mình ở lại. Nhưng phương án này chứng minh điều ngược lại. Anh đã đặt quyền từ chối của tôi ngay cạnh quyền mong muốn của anh. “Cảnh Hòa, nếu tôi bán nhà, anh có đi Thâm Quyến không?” “Có thể.” “Nếu tôi giữ?” “Anh vẫn có thể đi.” “Vậy căn nhà chẳng thay đổi gì.” “Nó thay đổi lựa chọn của em. Không phải hợp đồng công việc của anh.” Tôi nên thấy nhẹ nhõm. Thay vào đó, tôi nhận ra anh có thể tôn trọng mọi quyền của tôi mà vẫn rời khỏi thành phố. Một cánh cửa chỉ có ý nghĩa khi cả hai phía còn người muốn mở. “Anh cho tôi xem hồ sơ này vì sao?” “Vì em có quyền biết phương án liên quan đến nhà em.” “Còn hồ sơ Thâm Quyến?” “Anh định nói tối nay.” “Sau khi Thanh Du đã nói?” “Anh sai vì chậm.” Anh nhận lỗi không vòng vo. Tôi lại không thể dùng cơn giận để né câu hỏi thật. “Anh muốn tôi ở lại, nhưng anh có thể đi. Anh muốn cửa mở, nhưng không hứa sẽ đứng phía bên kia. Anh thấy như thế có công bằng không?” “Không.” “Vậy anh định làm gì?” “Ngừng nói bằng phương án sửa nhà.” Tim tôi đập mạnh. Cảnh Hòa kéo ghế đối diện ra, nhưng không bước đến gần. “Vãn Chi, tối nay sau khi em làm xong, anh muốn nói chuyện. Không có cha mẹ, không có giấy bán nhà, không có bản vẽ.” Tôi nhìn anh, rồi nhìn chiếc đèn bàn cũ. “Được.” Lần đầu tiên, cả hai chúng tôi hẹn một cuộc nói chuyện mà không thể trốn sau hai chữ người nhà.