dính và một bình nước ấm. Tôi còn đang nhìn chúng thì phía ban công vang lên ba tiếng gõ đều. Cốc. Cốc. Cốc. Ngày nhỏ, ba tiếng ấy có nghĩa là mở cửa. Hai tiếng là tôi đã về. Một tiếng dài là đừng sang, người lớn đang mắng. Tôi kéo rèm. Phía bên kia lớp kính là Lục Cảnh Hòa. Bảy năm không khiến anh thành người lạ. Nó chỉ làm khuôn mặt quen thuộc trở nên sắc nét hơn. Anh mặc áo sơ mi xám, tay áo xắn đến khuỷu, trên cổ tay còn vết bụi trắng. Hai ban công vốn liền nhau, nhưng bảy năm trước, sau khi bà ngoại yếu đi, hai nhà đã xây một bức tường thấp và khóa cánh cửa nhỏ ở giữa. Lục Cảnh Hòa đứng bên phía nhà mình, một tay tựa lên bức tường, như thể anh chỉ vừa rời đi vài phút. “Em về muộn mười bảy phút.” Tôi mở cửa kính. “Anh vẫn tính giờ người khác à?” “Chú tài xế nói em xuống ga lúc năm giờ mười.” “Từ ga về đây có thể tắc đường.” “Không tắc. Em dừng mua bánh hạt dẻ.” Tôi nhìn túi giấy còn cầm trong tay, quyết định không tranh luận với người từng đoán được tôi ăn vụng chỉ bằng số hạt mè dính trên áo. “Anh vào bằng cách nào mà đặt thùng trong nhà tôi?” “Dì Mẫn Lan đưa chìa khóa cửa chính.” Tôi nhíu mày. “Mẹ tôi có quyền vào. Không có nghĩa mẹ tôi được trao quyền ấy cho anh.” Lục Cảnh Hòa im một nhịp. Anh không cãi rằng hai nhà vốn thân nhau, cũng không dùng câu từ nhỏ đến lớn vẫn thế. Anh lấy chìa khóa cửa chính trong túi, đặt lên mặt bức tường rồi đẩy về phía tôi. “Anh xin lỗi. Anh chỉ mang thùng vào, không mở tủ. Từ giờ muốn sang, anh sẽ hỏi.” Câu xin lỗi quá thẳng khiến sự khó chịu của tôi không tìm được chỗ bám. Tôi cầm chìa khóa, lạnh giọng cho đủ thể diện. “Anh sang bằng cửa chính đi. Đứng ngoài đó nói chuyện giống hai người hàng xóm đang tranh nhau chỗ phơi chăn.” “Nếu em cho phép.” “Tôi vừa cho phép.” Anh nhìn tôi. “Em lại gọi anh là tôi với anh rồi.” “Tôi nói chuyện với đồng nghiệp cũng thế.” “Anh không phải