của anh là ngón cái miết một lần lên mép giấy, như muốn làm phẳng thứ vốn đã phẳng. Tôi không hỏi tiếp. Chúng tôi thỏa thuận mỗi tối dọn một khu vực. Anh chỉ xử lý những thứ tôi cho phép. Tôi giữ chìa khóa cửa chính. Còn chìa khóa cánh cửa nhỏ giữa hai ban công, anh nói vẫn đang ở nhà anh. “Vì sao anh giữ?” tôi hỏi. “Bà ngoại đưa.” “Khi nào?” “Lúc em mười bảy tuổi. Bà bảo nếu em học khuya rồi ngủ quên, anh sang tắt đèn.” Tôi nhớ những buổi sáng tỉnh dậy thấy sách đã được xếp ngay ngắn, cửa ban công khép hờ và cốc nước đặt cạnh tay. Tôi từng nghĩ bà ngoại sang phòng. “Anh vào bao nhiêu lần?” “Ba lần.” “Anh chưa từng nói.” “Em chưa từng hỏi.” Câu ấy nghe vô cùng đáng ghét. Nó cũng giống hệt cách chúng tôi đã sống suốt nhiều năm: một người làm nhưng không nói, một người nhìn thấy rồi tự đặt tên cho hành động ấy. Tối đầu tiên, chúng tôi dọn tủ sách đến gần mười giờ. Tôi phụ trách phân loại, Lục Cảnh Hòa buộc dây những chồng cần gửi kho. Anh nhớ cuốn bà ngoại thường đọc và cuốn tôi từng làm đổ sữa lên trang. Anh còn nhớ một tập truyện tôi giấu sau tủ vì nhân vật nam trong đó khiến tôi khóc. “Tại sao anh nhớ chuyện xấu hổ của tôi rõ thế?” “Vì người khóc chạy sang ban công nhà anh lúc hai giờ sáng.” “Lúc đó tôi mười bốn tuổi.” “Anh đâu nói chuyện mới xảy ra.” “Anh Cảnh Hòa, người trưởng thành nên học cách quên bớt.” Cuộn dây trong tay anh dừng lại. Tôi dùng cách gọi ấy mỗi khi muốn nhắc rằng giữa chúng tôi không có gì nguy hiểm. Anh lớn hơn tôi hai tuổi. Hai gia đình ăn chung, đi nghỉ chung, từng thay nhau đón chúng tôi tan học. Người lớn gọi anh là người anh trai tôi không có. Lục Cảnh Hòa đặt cuộn dây xuống. “Anh chưa từng nhận cách gọi đó.” Tôi giả vờ không hiểu. “Cách gọi nào?” “Anh trai.” “Chỉ là xưng hô thôi.” “Vậy đừng dùng nó mỗi khi em muốn kết thúc một câu chuyện.” Tôi cúi xuống xếp sách. “Anh nghĩ nhiều rồi.” “Có thể.” Anh không ép tôi nói tiếp.