Chính sự im lặng ấy mới khiến tôi mất tập trung, dán nhầm nhãn giữ lại lên thùng đồ cần bỏ. Đêm đó, tôi nằm trong phòng cũ mà không ngủ được. Gần mười hai giờ, đèn bàn bên căn hộ Lục Cảnh Hòa tắt rồi bật hai lần. Hai lần. Tôi đã về. Tôi bật đèn của mình một lần rồi lập tức thấy hối hận. Một lần dài ngày trước có nghĩa là đừng sang. Nhưng tôi không giữ công tắc đủ lâu, nên tín hiệu trông giống một câu trả lời vụng về. Phía bên kia, đèn anh tắt. Sáng hôm sau, mất điện đúng lúc tôi đang họp qua máy tính. Màn hình tối đen, bộ phát mạng ngừng hoạt động, còn điện thoại chỉ còn mười phần trăm pin. Tôi chạy ra hành lang tìm tín hiệu thì cửa nhà đối diện mở. Lục Cảnh Hòa giơ một bộ sạc dự phòng. “Anh đã sạc đầy.” “Tôi không cần anh chuẩn bị mọi thứ.” “Anh chuẩn bị cho anh.” “Vậy sao đưa tôi?” “Vì cuộc họp của em quan trọng hơn việc anh đọc tin nhắn.” Tôi nhận lấy, vẫn cố giữ vẻ bình thường. “Cảm ơn anh Cảnh Hòa.” Anh nhìn thẳng vào tôi. Tôi sửa lại: “Cảm ơn Cảnh Hòa.” Khóe miệng anh nhúc nhích. “Không có gì.” Buổi trưa, điện có lại. Tôi mở rèm và thấy chiếc đèn bàn cũ được đặt sát cửa kính phía anh. Đó là chiếc đèn chúng tôi từng dùng làm tín hiệu khi cha mẹ không cho nói chuyện sau mười giờ. Năm tôi thi đại học, tôi thường học đến sáng. Mỗi lần ngẩng lên, ánh đèn bên kia vẫn còn. Tôi từng hỏi vì sao anh thức. Anh nói mình có bản vẽ phải làm. Mãi sau này tôi mới biết học kỳ đó anh chẳng có môn nào yêu cầu thức đêm. Tôi nhắn cho anh một câu: “Chiếc đèn vẫn dùng được à?” Anh trả lời: “Vẫn dùng.” Tôi gõ rồi xóa ba lần trước khi hỏi: “Anh còn giữ bao nhiêu thứ cũ?” Tin nhắn hồi đáp đến rất nhanh: “Những thứ không thuộc quyền anh bỏ.” Tối thứ hai, Lục Cảnh Hòa mang chìa khóa cửa ban công sang. Nó nhỏ hơn tôi nhớ, đầu chìa có một vết xước hình bán nguyệt. Anh đặt nó lên bàn, không giữ lại như một món