án. Anh ấy có mười ngày để trả lời. Nếu nhận, đầu tháng sau chúng tôi sẽ đến Thâm Quyến khảo sát.” Cô ấy nói rất tự nhiên, không có vẻ khoe khoang hoặc thăm dò. Chính điều đó khiến tôi không thể ghét cô ấy cho dễ chịu. “Tôi nghe Cảnh Hòa nói chị đang quyết định chuyện căn hộ,” Thanh Du tiếp. “Phương án ban công anh ấy sửa ba lần rồi. Tôi chưa từng thấy anh ấy cẩn thận với một cánh cửa nhỏ như thế.” Cảnh Hòa nhìn cô ấy. “Thanh Du.” “Tôi chỉ nói sự thật.” Cô ấy đưa hồ sơ cho anh. “Mười ngày. Đừng để công ty phải đoán.” Sau khi Thanh Du đi, tôi bước sang phòng khách nhà Cảnh Hòa bằng cửa chính. Đây là lần đầu tiên tôi vào căn hộ anh kể từ khi trở về. Mọi thứ gọn đến mức lạnh. Chỉ chiếc đèn bàn cũ và một kệ đồ liên quan đến tôi phá vỡ vẻ lạnh lẽo ấy. Trên đó có huy hiệu trường, ảnh hai chậu nhài và một con thỏ gỗ tôi khắc lệch tai. “Anh giữ những thứ này để làm gì?” “Anh đã nói rồi. Những thứ không thuộc quyền anh bỏ.” “Con thỏ là tôi tặng anh.” “Vậy thuộc anh.” “Thế anh có quyền bỏ.” “Anh không muốn.” Tôi quay sang. “Còn dự án Thâm Quyến?” “Anh muốn nhận.” Câu trả lời thẳng khiến tôi đau hơn lời né tránh. “Vậy nhận đi.” “Anh sẽ quyết theo công việc. Không phải để rời em, cũng không phải vì em mà bỏ.” “Tôi có bảo anh bỏ đâu.” “Anh biết.” “Vậy cần gì giải thích?” “Vì anh không muốn em lại tự điền vào chỗ anh im lặng.” Tôi nhìn xuống tập hồ sơ trên bàn. Bên cạnh là phương án sửa ban công. Trên trang đầu có hai ô chữ ký, một cho chủ căn hộ của tôi, một cho chủ căn hộ nhà anh. Dòng ghi chú được khoanh rõ: mọi thay đổi ở bức tường và cánh cửa phải có sự đồng thuận của cả hai bên. “Tại sao anh không ghi cứ phá đi cho tiện?” tôi hỏi. “Vì cửa mở sang nhà anh, nhưng một nửa khung nằm trên phần tường nhà em.” “Tôi không hỏi về kỹ thuật.” Cảnh Hòa nhìn tôi. “Vì anh không muốn giữ em bằng một cánh