xe. Bữa ăn kéo dài hơn dự kiến vì bác Quang Dụ và chú Trường Lâm tranh luận vị trí ghế trong buổi lễ. Khi về đến căn hộ, cả hai đều mệt. Tôi đi thẳng vào thang máy, dựa lưng vào vách kim loại. Cảnh Tuyên đứng bên cạnh, nhắm mắt vài giây. Cửa thang máy mở ở tầng mười hai. Chúng tôi cùng bước ra. Đến khi mở cửa căn hộ, tôi mới nhận ra chiếc nhẫn vẫn trên tay. Tôi nhìn tay anh. Nhẫn của anh cũng còn đó. “Anh quên à?” “Ừ.” “Tôi cũng quên.” Cả hai im lặng. Tôi tháo nhẫn hơi nhanh, suýt làm nó rơi. Cảnh Tuyên cúi xuống nhặt giúp, nhưng không đưa thẳng vào tay tôi. Anh đặt nó lên kệ cạnh cửa, giữ đúng khoảng cách. “Chắc do mệt,” tôi nói. “Chắc vậy.” Sáng hôm sau, trên bàn có hai bát mì nhỏ. Cảnh Tuyên đã ngồi ăn, chiếc nhẫn không còn trên tay. Tôi thở phào, nhưng không hiểu mình nhẹ nhõm vì điều gì. Anh đẩy bát không có hành về phía tôi. “Tôi không biết cô có ăn được cay lúc sáng không, nên để tương riêng.” Tôi ngồi xuống đối diện. “Anh nhớ tôi không ăn hành à?” “Cô gắp ra ba lần.” “Anh quan sát kỹ thật.” Cảnh Tuyên cầm đũa, đáp tỉnh bơ: “Nghề của tôi là nhìn xem người ta vấp ở đâu.” Tôi bật cười. Anh cũng cong khóe môi. Không ai nhắc đến hai chiếc nhẫn bị quên tháo. Nhưng kể từ hôm đó, bữa sáng hai phần trở thành một việc không cần đánh dấu trên lịch. Minh Châu liên lạc lại vào ngày thứ ba mươi bảy. Em đang ở một xưởng phục chế nhỏ, đã xin được chỗ học việc ba tháng. Qua màn hình, tóc em buộc vội, trên má còn một vệt bụi đất màu trắng. “Chị có giận em không?” “Có.” Mắt Minh Châu đỏ lên. Tôi nói tiếp: “Chị giận vì em để lại một tờ giấy rồi biến mất. Từ chối kết hôn là quyền của em. Nhưng em không thể bắt người khác đoán xem em có an toàn hay không.” “Em sợ gọi về, mọi người sẽ tìm được em.” “Vậy gửi một đoạn ghi âm cho bác Quang Dụ. Nói rõ em an toàn, tự kiếm sống và tự từ chối. Chị không