Cha ruột đặt cây bút đỏ trước mặt tôi và bảo tôi tự gạch tên mình khỏi gia phả. Phòng thờ nhà họ Ninh im đến mức tôi nghe rõ tiếng mưa gõ lên mái ngói. Gần năm mươi người đứng thành hai hàng sau lưng ông. Trên bàn gỗ dài, tên Ninh Tư Nguyệt vừa được viết bằng mực đen còn chưa khô. Ninh Chính Dương đẩy tờ giấy về phía tôi. “Con chỉ cần ký vào bản thỏa thuận bên cạnh. Gia đình sẽ công nhận huyết thống, nhưng tên Gia Hân vẫn được giữ ở vị trí hiện tại. Đây là cách ít tổn thương nhất cho tất cả.” Tôi nhìn cây bút. Đầu bút đã thấm mực đỏ. Họ không cần chữ ký để đưa tôi về. Họ cần chính tay tôi xác nhận rằng tôi chưa từng thuộc về nơi này. Ninh Gia Hân đứng đối diện tôi trong bộ váy màu trắng ngà. Cô là người đã sống trong căn nhà này suốt hai mươi bốn năm, gọi cha mẹ tôi là cha mẹ, đứng trong mọi bức ảnh mà lẽ ra có thể có mặt tôi. Tôi từng nghĩ người muốn tôi biến mất nhất sẽ là cô. Nhưng khi tôi vừa cầm bút, Gia Hân bước lên, giật tờ gia phả khỏi bàn. “Không ai ký cả.” Ninh Chính Dương quát tên cô. Gia Hân không lùi. Cô xé bản thỏa thuận làm đôi, đặt hai nửa giấy trước mặt ông. “Cha dùng tên chị ấy để giữ quỹ. Dùng tên con để giữ thể diện. Cha có từng hỏi chúng con muốn giữ thứ gì không?” Mọi ánh mắt chuyển sang tôi. Tôi lấy từ túi áo một chiếc hộp gỗ nhỏ. Bên trong là con dấu của Quỹ Tĩnh Lan, quỹ do bà nội tôi lập trước khi qua đời. Tôi đặt nó xuống cạnh bút đỏ. “Trước khi bàn xem tên ai được ở lại,” tôi nói, “chúng ta nên bàn xem nhà họ Ninh còn quyền dùng tên bà nội hay không.” Sáu tuần trước, tôi còn chưa biết con dấu ấy tồn tại. Sáng hôm đó, tôi đang đứng giữa Xưởng Thanh Kiều, cố giải thích với ba mươi hai người rằng chúng tôi có thể không nhận được lương đúng hạn. Xưởng nằm ở rìa khu phố cũ phía nam Tô Châu. Nơi này vốn là một kho nhuộm bỏ hoang, mái thấp, tường gạch xám và có con kênh nhỏ chạy sau sân. Chúng tôi sửa lại thành xưởng chung cho những người thợ từng bị các nhà máy lớn cho nghỉ vì tuổi cao hoặc vì không chịu giao mẫu dệt gia truyền. Công việc của tôi không có gì cao sang. Tôi tìm đơn hàng, tính tiền nguyên liệu, kiểm tra màu vải và bảo đảm người làm ra sản phẩm được ghi tên trong hồ sơ bán hàng. Sáng ấy, những cuộn lụa chưa nhuộm xếp dọc bức tường. Màu trắng ngà của chúng khiến căn phòng càng lạnh. “Đơn của khách sạn Minh Hồ bị hủy rồi sao?” cô Lưu hỏi. Tôi gấp lá thư đặt trên bàn. “Không phải khách sạn hủy. Công ty trung gian đổi nhà cung cấp.” “Công ty nào?” Tôi không muốn nói, nhưng mọi người đều đang nhìn tôi. “Ninh thị.” Không khí trong xưởng lặng xuống. Ninh thị là doanh nghiệp lụa lớn nhất Tô Châu. Họ không chỉ bán vải. Họ sở hữu cửa hàng, khu trưng bày, nhà kho và những hợp đồng đủ lớn để quyết định xưởng nhỏ nào sống được qua mùa thấp điểm. Đơn hàng Minh Hồ chiếm gần một nửa doanh thu ba tháng tới của chúng tôi. Nếu mất nó, xưởng vẫn có thể mở cửa, nhưng tám người phải nghỉ việc trước. Tôi đang định nói về khoản dự phòng thì điện thoại rung. Một người đàn ông tự giới thiệu là trợ lý của Ninh Chính Dương. Ông ta nói kết quả xét nghiệm huyết thống đã có, xe đang đợi ngoài cổng và gia đình muốn gặp tôi trước buổi trưa. Tôi nhìn qua cửa kính. Một chiếc xe màu đen đỗ bên kia con kênh, sạch đến mức lạc lõng giữa những mái nhà còn đọng nước mưa. Cô Lưu hỏi nhỏ: “Có chuyện gì vậy?” Tôi nắm điện thoại chặt hơn. “Họ tìm được cha mẹ ruột của tôi.” Không ai nói gì trong vài giây. Tôi lớn lên ở một nhà nuôi trẻ tại Vô Tích. Hồ sơ ghi rằng tôi được tìm thấy ở bến xe khi chưa đầy một tuổi, trên người chỉ có chiếc vòng bạc khắc một chữ Nguyệt. Tôi từng tìm cha mẹ hai lần. Lần đầu năm mười tám tuổi, tôi hết tiền sau ba tháng. Lần thứ hai năm hai mươi hai tuổi, người nhận hồ sơ lừa tôi nộp một khoản phí rồi biến mất. Tôi đã thôi tìm từ lâu. Vậy mà đúng ngày Ninh thị rút đơn hàng lớn nhất của xưởng, nhà họ Ninh tìm thấy tôi. Tôi không tin sự trùng hợp đó. Tôi nhờ cô Lưu giữ danh sách chi phí, rồi đi ra xe. Người trợ lý mở cửa sau nhưng không nhìn thẳng vào tôi. Trên ghế có một tập giấy mỏng. Trang đầu là kết quả xét nghiệm. Những con số không khó hiểu. Chúng nói tôi là con ruột của Ninh Chính Dương và Tô Mạn Thanh với xác suất gần như tuyệt đối. Trang thứ hai là lịch trình. Mười một giờ gặp riêng cha mẹ. Mười hai giờ ăn trưa với gia đình. Hai giờ thử trang phục. Bốn giờ chụp ảnh. Tôi lật sang trang cuối. Không có dòng nào hỏi tôi có đồng ý hay không. “Ông Ninh chuẩn bị lịch này?” Người trợ lý đáp: “Chủ tịch muốn mọi việc được xử lý ổn thỏa.” “Tôi chưa nói sẽ về.” Ông ta im lặng một lúc rồi nói: “Cô sẽ hiểu sau khi gặp gia đình.” Phủ Ninh nằm bên một nhánh kênh ở phía tây thành phố. Cổng gỗ sơn đen, sân lát đá và những dãy nhà mái cong được sửa mới đến mức không còn dấu thời gian. Người giúp việc dẫn tôi qua ba khoảng sân mà không giới thiệu nơi nào dùng làm gì. Tôi chỉ nhớ mùi trầm quá đậm và những bức ảnh gia đình treo dọc hành lang. Trong ảnh nào cũng có một cô gái. Cô ấy lớn hơn tôi vài tháng, gương mặt trái xoan, tóc luôn được chải gọn. Từ đồng phục tiểu học đến váy tốt nghiệp, từ bữa cơm gia đình đến lễ kỷ niệm công ty, cô đứng ở vị trí chính giữa. Tên cô là Ninh Gia Hân. Người con gái nhà họ Ninh nhận nuôi ba tháng sau khi tôi mất tích. Ninh Chính Dương và Tô Mạn Thanh chờ tôi trong phòng khách. Mẹ ruột tôi đứng dậy trước. Bà bước hai bước rồi dừng lại, như thể không biết nên ôm tôi hay bắt tay. “Con giống bà nội,” bà nói. Tôi không biết đó là lời chào hay một cách xác nhận hàng hóa. Ninh Chính Dương chỉ chiếc ghế đối diện. “Ngồi đi.” Ông đặt trước mặt tôi một tập hồ sơ khác. Nó không dày, nhưng được chia sẵn bằng những mảnh giấy màu. “Gia đình xin lỗi vì tìm thấy con quá muộn,” ông nói. “Chúng ta sẽ bù đắp. Nhà ở, xe, một vị trí tại công ty và khoản tiền đủ để con không phải lo lắng.” “Tại sao bây giờ mới tìm thấy tôi?” Tô Mạn Thanh siết hai tay. “Cảnh sát liên hệ lại hồ sơ cũ. Vòng bạc của con trùng với ảnh lưu trong nhà.” “Vậy tại sao đơn hàng của Xưởng Thanh Kiều bị rút đúng sáng nay?” Ninh Chính Dương nhìn tôi lâu hơn. “Đó là quyết định kinh doanh.” “Do ai ký?” “Con vừa về nhà đã muốn chất vấn cha sao?” “Tôi chưa về nhà. Tôi được xe của ông đưa đến một cuộc họp.” Tô Mạn Thanh vội nói: “Cha con chỉ muốn bảo vệ mọi người. Gia Hân không có lỗi. Con bé đã sống với chúng ta hai mươi bốn năm. Nếu công bố đột ngột, truyền thông sẽ biến hai đứa thành câu chuyện để bàn tán.” Tôi nhìn những mảnh giấy màu trong hồ sơ. “Vậy phương án của mọi người là gì?” Ninh Chính Dương mở trang có đánh dấu đỏ. “Trước mắt, chúng ta xác nhận con là người thân nhưng chưa đổi tên trên giấy tờ hay gia phả. Con có thể dùng tên hiện tại, nhận quyền lợi như một thành viên trong nhà. Gia Hân tiếp tục đại diện gia đình trước công chúng.” “Còn xưởng của tôi?” “Sau khi mọi việc ổn định, Ninh thị có thể xem xét đầu tư.” Tôi hiểu rồi. Họ không cắt đơn để trừng phạt tôi. Họ cắt đơn để tôi bước vào căn phòng này với một thứ đang cần cứu. Danh phận được đặt bên này bàn. Ba mươi hai việc làm được đặt bên kia. “Ông muốn tôi giữ kín chuyện huyết thống để đổi lấy đơn hàng?” Ninh Chính Dương không trả lời thẳng. “Ta muốn con học cách nghĩ cho gia đình.” “Tôi vừa biết gia đình này tồn tại chưa đầy một giờ.” Cửa phòng khách mở ra. Ninh Gia Hân bước vào. Cô mặc áo khoác màu xám nhạt, trong tay ôm một ống đựng bản vẽ. Khi nhìn thấy tôi, cô dừng lại. Ánh mắt cô lướt qua mặt tôi, chiếc vòng bạc trên cổ tay rồi tập hồ sơ trước mặt cha. Không ai giới thiệu chúng tôi. Cuối cùng, Gia Hân tự nói: “Chị là Tư Nguyệt?” Tôi gật đầu. Cô đặt ống bản vẽ xuống bàn. “Em là Gia Hân.” Giọng cô bình tĩnh, nhưng ngón tay vẫn giữ chặt quai túi. Tô Mạn Thanh kéo cô ngồi xuống bên cạnh. “Gia Hân, cha mẹ đã nói với con rồi. Chuyện này không làm thay đổi tình cảm của chúng ta.” Gia Hân nhìn bà. “Vậy điều gì sẽ thay đổi?” Không ai trả lời. Cô quay sang tôi. “Cha đã đề nghị chị vào công ty chưa?” “Có.” “Có nói vị trí của chị sẽ làm gì không?” “Chưa.” Gia Hân cười rất nhạt. “Vị trí của em cũng chưa bao giờ được nói rõ. Chỉ khi cần chụp ảnh hoặc đứng trên sân khấu, mọi người mới nhớ em đại diện cho điều gì.” Ninh Chính Dương gõ ngón tay lên bàn. “Gia Hân.” Cô ngừng nói. Tôi nhận ra chúng tôi đã được chuẩn bị để nhìn nhau như hai đầu của một chiếc cân. Nếu tôi được thêm một thứ, cô sẽ mất một thứ. Nếu cô ở lại, tôi phải chứng minh mình xứng đáng hơn. Nhưng chiếc cân không thuộc về chúng tôi. Người đặt nó giữa phòng vẫn đang ngồi ở đầu bàn. Tôi đẩy tập hồ sơ về phía Ninh Chính Dương. “Tôi không ký gì hôm nay.” “Còn xưởng?” “Tôi sẽ tự tìm cách.” “Con nghĩ vài đơn hàng nhỏ có thể cứu ba mươi hai người sao?” “Tôi nghĩ dùng việc làm của họ để ép tôi gọi ông là cha không khiến ông giống một người cha hơn.” Tô Mạn Thanh bật khóc. Ninh Chính Dương đứng dậy, nhưng Gia Hân lên tiếng trước. “Để em đưa chị ra.” Chúng tôi đi qua hành lang treo đầy ảnh của cô. Khi đến sân thứ hai, Gia Hân dừng dưới mái hiên. “Chị nghĩ em biết họ tìm thấy chị từ lúc nào?” “Tôi không biết.” “Em biết từ tối qua.” Cô mở ống bản vẽ trong tay. Bên trong không phải thiết kế mới, mà là ba tờ mẫu dệt có dấu của Xưởng Thanh Kiều. Tôi nhận ra ngay. Đó là bộ hoa văn chúng tôi gửi cho khách sạn Minh Hồ, bộ mẫu đã bị rút đơn sáng nay. “Vì sao cô có chúng?” “Phòng thiết kế Ninh thị đưa cho em chỉnh lại rồi đăng ký dưới tên công ty.” Cô trao cả ống bản vẽ cho tôi. “Em chưa sửa gì. Nhật ký nhận mẫu và thư giao việc đều ở trong đó.” Tôi không nhận ngay. “Cô muốn gì?” “Muốn chị đừng nghĩ em là người lấy đơn hàng.” “Còn nếu tôi dùng những thứ này chống lại Ninh thị?” Gia Hân nhìn về phòng khách phía sau. “Thì ít nhất có một chuyện trong nhà này không được quyết định thay chúng ta.” Tôi cầm ống bản vẽ. Đó là lần đầu tiên người trong nhà họ Ninh trả lại cho tôi một thứ vốn thuộc về tôi. Ba ngày sau, bằng nhật ký giao nhận và bản mẫu có chữ ký, Xưởng Thanh Kiều giữ được quyền sở hữu thiết kế. Khách sạn Minh Hồ chưa khôi phục đơn hàng, nhưng Ninh thị không thể dùng mẫu của chúng tôi. Đó chưa phải chiến thắng đủ để trả lương. Nhưng nó khiến lời đe dọa của Ninh Chính Dương mất đi một nửa sức nặng. Chiều hôm ấy, tôi nhận được thư mời dự cuộc họp của Quỹ Tĩnh Lan. Quỹ mang tên bà nội tôi, người phụ nữ đã gây dựng xưởng lụa đầu tiên của nhà họ Ninh. Thư mời nói tôi là “người có liên quan đến di nguyện của người sáng lập”. Không ghi con gái thất lạc, không ghi người thừa kế, cũng không ghi khách mời. Cuộc họp diễn ra ở một tòa nhà nhỏ bên bờ kênh Bình Giang, không phải trụ sở Ninh thị. Khi tôi đến, Tần Duy An đang đứng cạnh cửa sổ, kiểm tra hai tập tài liệu giống nhau. Anh khoảng gần ba mươi tuổi, mặc áo sơ mi trắng và áo khoác sẫm màu, không có trợ lý đi cùng. Anh tự giới thiệu là luật sư độc lập do hội đồng quỹ thuê. “Tôi không làm cho Ninh thị,” anh nói trước khi tôi hỏi. “Và hôm nay cô có quyền rời đi bất cứ lúc nào.” “Anh thường phải nói câu đó với người nhà họ Ninh sao?” “Thường xuyên hơn mức tôi mong muốn.” Gia Hân đã ngồi ở cuối bàn. Trước mặt cô cũng có một tập tài liệu. Tôi nhìn Duy An. “Vì sao cô ấy ở đây?” “Vì điều lệ yêu cầu mọi người đang bị quyết định thay phải được xem cùng một thông tin.” Anh đẩy một tập về phía tôi. Không ai bảo tôi ký cam kết giữ kín trước. Không ai lấy việc làm của người khác đặt lên bàn. Không ai nói tôi nên biết ơn vì được đọc. Trang đầu là báo cáo dự án mới của Quỹ Tĩnh Lan. Ninh thị muốn dùng tên quỹ để mở khu trưng bày thủ công trong một khách sạn lớn. Bề ngoài, dự án sẽ giúp thợ truyền thống bán sản phẩm. Nhưng phần hợp đồng phía sau yêu cầu mọi mẫu thiết kế tạo ra trong chương trình thuộc quyền sử dụng lâu dài của Ninh thị. Tôi đọc đến dòng đó rồi ngẩng lên. “Người thợ có quyền từ chối không?” Duy An đáp: “Nếu hợp đồng được thông qua như hiện tại, họ có thể từ chối tham gia. Nhưng nếu đã tham gia, họ gần như không có quyền với mẫu mới.” Gia Hân nói: “Dự án này do cha tôi đứng tên công bố tháng sau.” “Tại sao quỹ chưa bỏ phiếu?” tôi hỏi. Duy An mở trang cuối. “Vì thiếu một người có quyền biểu quyết.” Trên danh sách hội đồng có sáu cái tên. Dòng thứ bảy để trống, chỉ ghi một câu: Người được bà Ninh Tĩnh Lan chỉ định khi đủ hai mươi bốn tuổi. Tôi nhìn con số ấy. Tôi vừa tròn hai mươi bốn tuổi cách đây mười một ngày. “Người đó là ai?” Duy An không trả lời ngay. Anh đặt lên bàn một phong thư niêm kín. “Muốn mở thư, cần ghép đủ hai trang phụ lục của điều lệ. Quỹ giữ một trang. Trang còn lại đang ở nhà họ Ninh.” Gia Hân dựa lưng vào ghế. “Và cha sẽ không giao nó nếu không nhận được thứ ông ấy muốn.” Tôi nhìn dòng trống trên danh sách, rồi nhìn cô. Lần đầu gặp nhau, chúng tôi đều nghĩ người kia có thể lấy chỗ của mình. Bây giờ, trước mặt chúng tôi là một chiếc ghế mà không ai biết thuộc về ai. Duy An khép tập tài liệu. “Trước khi hai cô quyết định tranh nó,” anh nói, “tôi đề nghị hai cô hỏi xem ai là người đặt chiếc ghế ở đó, và họ muốn dùng người ngồi lên nó để làm gì.” Câu nói ấy khiến tôi nhớ đến tập lịch trình trên xe. Nhà họ Ninh không chỉ chuẩn bị chỗ cho từng người. Họ còn chuẩn bị sẵn cách chúng tôi phải ngồi. Trang phụ lục còn lại nằm trong phòng lưu niệm của bà nội, nơi cửa chỉ mở vào ngày giỗ. Gia Hân nói điều đó khi chúng tôi rời văn phòng quỹ. Cô đi trước tôi nửa bước, gót giày gõ đều trên con đường lát đá cạnh kênh. “Tại sao cô biết?” tôi hỏi. “Vì ba năm trước, cha bảo em tìm một bản điều lệ cũ. Em thấy chiếc hộp đựng tài liệu trong tủ của bà, nhưng cha tự lấy nó đi.” “Cô đã đọc trang đó chưa?” “Chưa. Khi ấy em nghĩ chỉ là giấy tờ quỹ.” “Còn bây giờ?” “Bây giờ em nghĩ trong nhà đó không có tờ giấy nào được cất riêng mà vô tình cả.” Chúng tôi dừng ở đầu cầu. Người qua đường phải lách giữa hai đứa, nhưng không ai muốn bước sang phía kia trước. Gia Hân nhìn ống bản vẽ tôi đang mang. “Chị vẫn chưa tin em.” “Tôi mới gặp cô bốn ngày.” “Em cũng mới gặp chị bốn ngày.” “Vậy chúng ta thống nhất.” “Thống nhất điều gì?” “Không cần tin nhau để cùng yêu cầu được xem một tờ giấy có thể quyết định cả hai.” Gia Hân bật cười lần đầu tiên. Nụ cười ngắn, nhưng không còn giống biểu cảm cô dùng trong ảnh gia đình. “Được,” cô nói. “Nhưng nếu cha hỏi, chị là người đề nghị.” “Tại sao?” “Vì trong bốn ngày qua, chị đã khiến ông nổi giận nhiều hơn em làm trong bốn năm. Em muốn quan sát thêm.” Ngày giỗ của bà Ninh Tĩnh Lan còn hai tuần. Chúng tôi không thể đợi. Gia Hân gửi yêu cầu bằng văn bản, nói cô cần đối chiếu lịch sử quỹ để chuẩn bị bài phát biểu cho dự án. Tôi gửi một yêu cầu khác với tư cách người được nhắc trong điều lệ. Ninh Chính Dương từ chối cả hai trong cùng một buổi chiều. Lý do ông đưa ra rất khác nhau. Với Gia Hân, ông nói cô không nên lo việc pháp lý. Với tôi, ông nói tôi chưa phải người nhà. Tần Duy An đọc hai thư trả lời rồi đặt cạnh nhau. “Đây là bằng chứng tốt,” anh nói. “Tốt ở đâu?” Gia Hân hỏi. “Nó chứng minh ông Ninh không từ chối dựa trên một nguyên tắc. Ông ấy dùng quan hệ khác nhau để từ chối cùng một quyền tiếp cận.” Tôi nhìn anh. “Chúng tôi có thể buộc ông ấy giao trang giấy không?” “Quỹ có thể yêu cầu tòa xác định quyền lưu giữ, nhưng sẽ mất thời gian. Cách nhanh hơn là hội đồng quỹ bỏ phiếu yêu cầu bản sao.” “Hội đồng có sáu người. Ba người làm việc với cha.” Gia Hân nhắc. “Và ba người còn lại?” “Họ không muốn gây chuyện trước lễ công bố dự án.” Duy An gật đầu. “Vậy hai cô cần khiến việc không xem tài liệu trở nên rủi ro hơn việc xem.” Tôi chống tay lên bàn. “Anh đang dạy chúng tôi gây áp lực?” “Không. Tôi đang nói rõ quyền lựa chọn. Hai cô có thể yêu cầu phiên họp, có thể công khai việc thiếu tài liệu, hoặc có thể không làm gì. Tôi sẽ xác nhận thủ tục, nhưng không chọn thay.” Gia Hân nghiêng đầu. “Anh luôn nói như một bản hướng dẫn sử dụng sao?” “Chỉ khi người đối diện đã sống quá lâu với những người cố giấu nút thoát.” Tôi không nhịn được cười. Duy An nhìn sang tôi, vẻ mặt vẫn bình thản, nhưng khóe môi hơi động. Anh không hỏi tại sao tôi cười. Cũng không biến khoảnh khắc đó thành sự thân mật mà tôi chưa cho phép. Chúng tôi chọn yêu cầu phiên họp. Tôi không quen với phòng họp có mặt bàn bóng đến mức nhìn thấy trần nhà. Tôi quen ngồi quanh chiếc bàn gỗ ở xưởng, nơi ai cũng có thể dùng bút ghi thẳng số tiền cần trả lên mặt giấy gói hàng. Hội đồng Quỹ Tĩnh Lan gồm sáu người. Hai người từng làm cùng bà nội. Một người đại diện hiệp hội thợ. Ba người còn lại có quan hệ kinh doanh với Ninh thị. Ninh Chính Dương không phải thành viên, nhưng vẫn xuất hiện với tư cách khách mời. Ông ngồi ở đầu bàn. Tôi bắt đầu hiểu vì sao Gia Hân nói vị trí đại diện chưa bao giờ có mô tả công việc. Trong nhà họ Ninh, chiếc ghế đầu bàn tự biến người ngồi đó thành người có quyền, dù điều lệ không hề ghi tên họ. Duy An mở cuộc họp bằng việc đọc yêu cầu của chúng tôi. Anh không nói thay. Khi đến lượt, anh đẩy micro về phía Gia Hân trước. Cô nhìn micro vài giây. Trong mọi video quảng bá của Ninh thị, cô nói trôi chảy trước hàng trăm người. Nhưng đó là những bài phát biểu có sẵn, những câu về truyền thống và lòng biết ơn. Lần này, không ai viết hộ cô. “Tôi đề nghị hội đồng yêu cầu bản sao trang phụ lục đang được ông Ninh lưu giữ,” cô nói. “Tôi từng được giao tìm tài liệu đó nhưng không được phép đọc. Nếu tên tôi tiếp tục được dùng để đại diện dự án, tôi cần biết dự án đang che điều gì.” Ninh Chính Dương ngắt lời. “Con đang bị người khác lợi dụng.” Gia Hân quay sang ông. “Người khác là ai?” Ông nhìn tôi. Gia Hân tiếp tục: “Nếu cha muốn nói chị Tư Nguyệt, hãy nói tên chị ấy. Nếu cha nghĩ em không đủ khả năng tự quyết, hãy nói thẳng điều đó trước hội đồng.” Căn phòng im lặng. Tôi nhận micro. “Tôi đề nghị cùng một việc. Tôi không yêu cầu được công nhận là người có quyền phủ quyết trước khi đọc đủ điều lệ. Tôi chỉ yêu cầu không ai được dùng phần tài liệu bị giấu để quyết định tôi là ai.” Đại diện hiệp hội thợ giơ tay đầu tiên. Hai người từng làm với bà nội giơ tay sau đó. Ba người có quan hệ với Ninh thị nhìn Ninh Chính Dương. Ông không nói, nhưng một người vẫn giơ tay. Có lẽ ông ta nhận ra nếu bỏ phiếu chống, biên bản sẽ ghi rằng mình ủng hộ việc giữ tài liệu quỹ trong nhà riêng của chủ tịch doanh nghiệp hưởng lợi từ dự án. Bốn trên sáu phiếu. Yêu cầu được thông qua. Đó là lần đổi thế đầu tiên. Ninh Chính Dương không phản đối tại chỗ. Ông chỉ đứng dậy, chỉnh cổ tay áo rồi nói với tôi: “Con đang biến chuyện gia đình thành trò công khai.” Tôi đáp: “Ông dùng một quỹ công cộng để mặc cả chuyện gia đình trước.” Trang phụ lục được chuyển đến văn phòng quỹ sáng hôm sau. Duy An gọi chúng tôi đến cùng lúc. Trên bàn là một túi niêm phong có chữ ký của người giao, người nhận và hai thành viên hội đồng. Anh kiểm tra dấu niêm phong trước mặt chúng tôi rồi mới mở. Trang giấy màu ngà, mép đã ố. Nửa đầu điều khoản nằm trên trang quỹ giữ. Nửa sau nằm trên trang nhà họ Ninh giữ. Khi đặt cạnh nhau, câu hoàn chỉnh hiện ra. Người được chỉ định không nhận quyền vì huyết thống, mà vì đã sống độc lập ngoài sự kiểm soát của Ninh thị đến năm hai mươi bốn tuổi. Người đó có quyền phủ quyết mọi dự án dùng tên Quỹ Tĩnh Lan nếu dự án chuyển quyền thiết kế của thợ cho doanh nghiệp tài trợ. Dòng cuối ghi tên người được chỉ định bằng cách mô tả, không phải tên riêng. Đứa trẻ đeo vòng bạc có khắc chữ Nguyệt, sinh vào đêm mười bảy tháng tư. Tôi đọc lại ba lần. Gia Hân đứng bên cạnh, không chạm vào giấy. “Là chị,” cô nói. Tôi nhìn Duy An. “Chỉ mô tả này đã đủ sao?” “Cùng hồ sơ sinh và kết quả huyết thống, đủ để hội đồng xác nhận. Nhưng còn phong thư.” Anh đặt phong thư niêm kín giữa hai trang điều lệ. Dấu sáp mang hình cành dâu. Tôi tưởng tay mình sẽ run. Nó không run cho đến khi Gia Hân nói: “Chị có muốn em ra ngoài không?” Tôi nhìn cô. Đó là câu hỏi đầu tiên trong quá trình này cho tôi quyền chọn ai được ở lại. “Không,” tôi nói. “Nếu thư nhắc đến cô, cô nên nghe.” Duy An hỏi lại: “Cô Tư Nguyệt có đồng ý mở thư với cô Gia Hân và tôi làm người chứng kiến không?” “Tôi đồng ý.” Anh mới cắt niêm phong. Thư do bà nội viết sáu năm trước. Bà nói đã tìm được dấu vết của tôi khi tôi mười tám tuổi. Bà đến Vô Tích, đứng bên kia đường nhìn tôi làm thêm tại một cửa hàng vải. Bà không bước vào. Tôi phải dừng đọc ở đó. Mọi cảm giác biết ơn biến mất. Bà đã tìm thấy tôi. Bà có tiền, có xe và có một gia đình đang sống trong căn nhà rộng đến mức tôi có thể đi lạc giữa ba khoảng sân. Còn tôi khi ấy dùng mì gói chia làm hai bữa để dành tiền học. Tôi đặt thư xuống. “Bà biết tôi còn sống nhưng bỏ mặc tôi.” Duy An không phủ nhận. “Thư còn một đoạn.” “Tôi không muốn nghe lời giải thích.” “Chị có thể dừng,” Gia Hân nói. “Nhưng nếu dừng, câu này sẽ ở lại đúng nơi họ muốn.” Tôi quay sang cô. Cô chỉ vào dòng tiếp theo. Bà nội viết rằng bà đã về nhà sau chuyến đi và nói với Ninh Chính Dương mình tìm được manh mối. Phản ứng đầu tiên của ông không phải hỏi tôi sống thế nào. Ông hỏi nếu đưa tôi về, quyền biểu quyết trong công ty sẽ được tính ra sao, truyền thông sẽ nói gì về Gia Hân và có thể dùng việc nhận con để thuyết phục các cổ đông lớn tuổi hay không. Bà hiểu nếu đưa tôi về lúc đó, tôi sẽ từ một cô gái nghèo thành một lá phiếu. Bà không tin bản thân còn đủ thời gian thay đổi gia đình, nên lập một điều kiện khác. Người nhận quyền phải sống ngoài Ninh thị đến năm hai mươi bốn tuổi, đủ lâu để có một nghề, một lựa chọn và một cái tên không phụ thuộc họ Ninh. Bà xin lỗi vì đã không hỏi tôi có muốn được bảo vệ theo cách ấy không. Dòng cuối viết: Nếu con đọc được thư này, đừng dùng quyền ta để lại chỉ để bước vào căn nhà đã từng không chọn con. Hãy dùng nó để bảo vệ quyền lựa chọn của một người khác, rồi con sẽ biết ai thật sự là gia đình mình. Tôi gấp thư lại. Trong sáu năm, bà nội đã biến sự im lặng của mình thành một kế hoạch. Kế hoạch ấy cho tôi quyền, nhưng cũng lấy khỏi tôi cơ hội quyết định có muốn gặp bà hay không. Tôi không biết nên tha thứ hay căm giận. Gia Hân đứng rất yên. “Bà có biết em tồn tại không?” cô hỏi. Duy An chỉ một đoạn nhỏ ở mép dưới. Bà viết rằng đứa trẻ được nhận nuôi không phải vật thay thế. Nếu gia đình dùng con bé để ngăn người kia trở về, hội đồng phải bảo đảm cả hai đều có quyền được nghe sự thật. Gia Hân cười, nhưng mắt đỏ lên. “Ít nhất có một người trong nhà đó biết em là người.” Tôi nghe câu ấy và bỗng khó chịu. “Cô biết bức thư này từ trước phải không?” Gia Hân sững lại. “Tại sao chị nghĩ vậy?” “Cô biết trang giấy ở đâu. Cô biết cha muốn giữ nó. Cô luôn đi trước tôi một bước.” “Em biết có giấy. Em không biết nội dung.” “Cô sống trong nhà đó hai mươi bốn năm.” “Và chị nghĩ sống trong đó nghĩa là được biết mọi thứ?” Tôi đứng dậy. “Ít nhất cô có một căn phòng, có trường học, có người gọi là cha mẹ.” Gia Hân cũng đứng lên. “Đúng. Em có tất cả những thứ chị thiếu. Nhưng mỗi thứ đều đi kèm điều kiện em phải là đứa con họ cần. Chị muốn giận em vì điều đó, cứ giận. Đừng biến em thành lời giải thích dễ nhất cho việc họ bỏ rơi chị.” “Cô không phải người bị bỏ lại ngoài cửa.” “Còn chị không phải người lớn lên trong nhà nhưng chưa từng biết nếu con ruột trở về thì mình có bị trả lại hay không.” Duy An không chen vào. Anh để sự im lặng nằm giữa chúng tôi đủ lâu, rồi mới nói: “Hai cô đang có cùng một tập sự thật, nhưng mỗi người chỉ nghe được phần chứng minh nỗi đau của mình.” Tôi quay sang anh. “Anh không cần phân xử.” “Tôi không phân xử. Tôi nhắc rằng quyền phủ quyết chỉ có hiệu lực với dự án, không có hiệu lực với cảm xúc của người khác.” Tôi cầm phong thư và rời đi. Ba ngày sau, Ninh Chính Dương công bố lễ nhập gia phả. Thông cáo nói gia đình đã tìm lại được con gái ruột sau nhiều năm, nhưng vì tôn trọng tình cảm của người con được nuôi lớn, hai bên đã thống nhất giữ nguyên vị trí của Gia Hân. Tôi được mô tả là cô gái hiểu chuyện, tự nguyện không tranh danh phận và sẵn sàng cùng gia đình tiếp nối di sản của bà nội. Tôi chưa từng đồng ý một chữ. Cùng ngày, Ninh thị gửi lại hợp đồng cho Xưởng Thanh Kiều. Đơn hàng Minh Hồ được khôi phục với điều kiện xưởng tham gia dự án Quỹ Tĩnh Lan. Nếu ký, ba mươi hai người có việc. Nếu dự án được thông qua, mọi mẫu mới họ tạo có thể thuộc quyền Ninh thị. Ninh Chính Dương gọi cho tôi vào buổi tối. “Cha đã cho con cách giữ xưởng.” “Ông đang yêu cầu tôi đổi quyền của thợ lấy danh phận của mình.” “Không ai lấy quyền của họ. Công ty sẽ trả tiền.” “Trả tiền không có nghĩa được lấy tên và mẫu của người khác.” “Con sống bên ngoài quá lâu nên không hiểu quy mô. Muốn cứu nhiều người, đôi khi phải hy sinh một phần quyền nhỏ.” “Tại sao phần phải hy sinh luôn thuộc về người không ngồi trong phòng họp?” Ông im lặng rồi nói: “Con dấu quỹ đang ở văn phòng. Chỉ cần con đồng ý dự án, lễ nhập gia phả sẽ diễn ra như kế hoạch. Tên con được ghi vào vị trí xứng đáng.” “Tôi không cần ông bán lại tên mình cho tôi.” “Vậy con muốn gì?” Tôi nhìn những cuộn lụa trắng trong xưởng. “Tôi muốn ông ngừng quyết định thay người khác rồi gọi đó là gia đình.” Ông cúp máy. Sáng hôm sau, tài khoản hoạt động của Quỹ Tĩnh Lan bị đóng băng vì Ninh thị rút phần tài trợ tạm ứng. Theo thủ tục, quỹ chưa thể dùng khoản dự phòng cho đến khi hội đồng họp lại. Xưởng Thanh Kiều mất cả đơn cũ lẫn cơ hội nhận khoản hỗ trợ nguyên liệu. Cô Lưu đặt bảng lương trước mặt tôi. “Chúng ta cầm được bao lâu?” “Tám ngày.” “Nếu cho tám người nghỉ?” “Một tháng.” “Cô định làm gì?” Tôi nhìn chiếc hộp đựng con dấu quỹ mà Duy An vừa bàn giao theo biên bản. Nó nhỏ hơn tôi tưởng. Một vật có thể khiến người ta tranh nhau hóa ra chỉ vừa lòng bàn tay. “Tôi sẽ phủ quyết dự án.” “Rồi tiền ở đâu?” Tôi không trả lời được. Tối đó, Gia Hân đến xưởng. Cô không mặc váy hay giày cao gót. Cô xắn tay áo, đi qua những bàn cắt vải rồi dừng trước bảng lương. “Chị định dùng con dấu ngay?” “Phải.” “Đại diện thợ đã xem phương án thay thế chưa?” “Chưa.” “Hội đồng đã biết chị định yêu cầu điều gì sau khi phủ quyết chưa?” “Chưa.” Gia Hân gật đầu. “Vậy chị khác cha ở đâu?” Tôi quay phắt lại. “Cô đến đây để bênh ông ấy?” “Không. Em đến vì nếu chị dùng quyền một mình rồi mọi người mất việc, cha sẽ nói quyền lựa chọn chỉ là thứ xa xỉ của người không phải trả lương.” “Ít nhất tôi đang bảo vệ mẫu thiết kế của họ.” “Chị đã hỏi họ muốn trả cái giá nào chưa?” Câu hỏi khiến tôi im lặng. Tôi đã giận nhà họ Ninh vì dùng ba mươi hai việc làm ép tôi. Nhưng từ lúc nhận con dấu, tôi cũng nhìn những người trong xưởng như lý do để chứng minh lựa chọn của mình đúng. Tôi chưa hỏi họ. Gia Hân đặt một tập giấy lên bàn. “Đây là danh sách cửa hàng nhỏ sẵn sàng đặt hàng nếu xưởng tách bộ mẫu thành lô ngắn. Không đủ bù hợp đồng Minh Hồ, nhưng đủ để giữ hai mươi bốn người trong ba tháng.” “Cô lấy ở đâu?” “Khách hàng từng làm việc với em. Em nói rõ mẫu thuộc xưởng, không thuộc Ninh thị.” “Tại sao giúp tôi?” “Em không giúp riêng chị.” Cô nhìn chiếc hộp con dấu. “Em đang bảo đảm khi hai chúng ta từ chối một chiếc ghế, người khác không phải ngã xuống thay.” Tôi nhớ lời bà nội trong thư. Dùng quyền để bảo vệ lựa chọn của một người khác. Tôi mở bảng lương, kéo ghế cho Gia Hân rồi lấy thêm giấy trắng. “Được,” tôi nói. “Lần này chúng ta hỏi họ trước.” Cô ngồi xuống. Chúng tôi làm việc đến gần sáng, không phải như hai chị em, cũng chưa phải bạn bè. Chỉ là hai người lần đầu tiên được tự chọn mình sẽ đứng cùng ai. Sáng hôm sau, chúng tôi gọi toàn bộ thợ trong xưởng đến quanh chiếc bàn dài. Tôi đặt hợp đồng Minh Hồ, dự thảo của Quỹ Tĩnh Lan và danh sách đơn hàng nhỏ thành ba chồng riêng biệt. Không có bản nào đủ tốt. Nếu ký hợp đồng cũ, xưởng có tiền ngay nhưng mất quyền với các mẫu tạo trong chương trình. Nếu chờ quỹ được mở lại, không ai biết phải chờ bao lâu. Nếu nhận các đơn nhỏ Gia Hân tìm được, tám người phải tạm nghỉ và phần còn lại nhận ít tiền hơn trong ba tháng. Tôi kể hết, kể cả việc mình có quyền phủ quyết dự án và đã định dùng nó trước khi hỏi mọi người. Cô Lưu nghe xong, khoanh tay. “Cô nghĩ chúng tôi sẽ chọn thế nào?” “Trước đây tôi nghĩ mọi người sẽ muốn giữ quyền thiết kế bằng mọi giá.” “Còn bây giờ?” “Bây giờ tôi biết chữ mọi giá thường do người không trả giá nói ra.” Một người thợ lớn tuổi hỏi Gia Hân: “Cô là người nhà họ Ninh. Nếu chúng tôi từ chối, cô có bảo đảm công ty không chặn các đơn khác không?” Gia Hân không hứa điều cô không thể làm. “Không. Tôi chỉ có thể cung cấp thư giao việc, danh sách khách hàng tôi đã liên hệ và công khai rút tên khỏi dự án nếu Ninh thị tiếp tục dùng mẫu của xưởng. Tôi không kiểm soát cha tôi.” Câu trả lời làm vài người thất vọng, nhưng không ai bị lừa bởi một lời bảo đảm rỗng. Cuộc họp kéo dài hơn hai giờ. Cuối cùng, hai mươi sáu người bỏ phiếu nhận các đơn nhỏ và giữ quyền thiết kế. Sáu người chọn hợp đồng lớn vì gia đình họ không thể chờ. Chúng tôi không gạt sáu lá phiếu ấy khỏi biên bản. Cô Lưu đề nghị dùng khoản dự phòng còn lại trả trước một tháng cho tám người tạm nghỉ, sau đó ưu tiên họ khi có đơn mới. Tôi ký tên dưới quyết định cùng đại diện thợ. Gia Hân không ký. Cô nói mình chỉ cung cấp phương án, không có quyền biểu quyết thay xưởng. Lần đầu tiên từ khi cầm con dấu quỹ, tôi biết mình sẽ dùng nó cho điều gì. Không phải để trả thù nhà họ Ninh. Không phải để đổi một vị trí trong gia phả. Tôi sẽ phủ quyết dự án cũ và yêu cầu một phiên biểu quyết mới, nơi người làm ra sản phẩm có ghế chính thức trong hội đồng. Nhưng Ninh Chính Dương hành động trước. Trưa hôm đó, tất cả cửa hàng trong danh sách Gia Hân tìm được đều nhận thư từ Ninh thị. Nội dung không đe dọa trực tiếp. Thư chỉ nhắc rằng Xưởng Thanh Kiều đang có tranh chấp quyền sở hữu mẫu và hợp tác lúc này có thể tạo rủi ro. Bốn cửa hàng rút đơn ngay. Đến tối, sáu cửa hàng khác xin thêm thời gian. Khoản tiền đủ giữ hai mươi bốn người trong ba tháng co lại chỉ trong vài giờ. Gia Hân đọc từng thư trả lời trên điện thoại. Gương mặt cô trắng bệch. “Danh sách chỉ có trong máy em.” Tôi nhìn cô. “Cô đã gửi cho ai?” “Không ai.” “Trợ lý của cô?” “Em tự liên hệ.” “Vậy cha cô biết bằng cách nào?” Gia Hân mở miệng rồi khép lại. Tôi nhớ bức thư của bà nội. Nhớ việc cô biết phòng lưu niệm. Nhớ cách cô luôn có mặt đúng lúc với thứ tôi cần. Mọi nghi ngờ vừa lắng xuống lại nổi lên. “Cô vẫn đang báo cho ông ấy?” “Không.” “Danh sách không tự đi khỏi máy.” “Chị nghĩ em phá kế hoạch do chính em làm cả đêm sao?” “Tôi không biết cô nghĩ gì. Cô đã sống hai mươi bốn năm bằng cách làm người họ cần.” Gia Hân lùi một bước như vừa bị tát. “Vậy đây mới là điều chị thật sự nghĩ.” “Tôi đang hỏi.” “Không. Chị đã kết luận rồi mới đặt dấu hỏi ở cuối.” Cô cầm áo khoác bỏ đi. Tôi không ngăn lại. Sáng hôm sau, Gia Hân không đến. Các cửa hàng còn lại cũng lần lượt rút đơn. Xưởng chỉ còn đủ tiền hoạt động tám ngày như trước. Tôi đã muốn bảo vệ lựa chọn của mọi người, nhưng lựa chọn ấy đang khiến họ mất việc thật. Đến ngày thứ ba, tám thợ nhận thông báo tạm nghỉ. Không ai trách tôi trước mặt, điều đó còn khó chịu hơn bị trách. Cô Lưu tháo tạp dề, gấp vuông rồi đặt vào ngăn kéo. “Tôi sẽ quay lại khi có việc,” cô nói. “Tôi xin lỗi.” “Đừng xin lỗi thay cho kế hoạch. Hoặc sửa nó, hoặc thừa nhận nó thất bại.” Cánh cửa xưởng khép lại sau lưng tám người. Đó là thứ không thể lấy lại bằng một câu xin lỗi. Dù họ có quay về, tiền của những ngày nghỉ vẫn đã mất. Niềm tin rằng tôi luôn tính được đường sống cũng đã sứt đi. Tối đó, Ninh Chính Dương đến xưởng. Ông không mang trợ lý. Ông đứng giữa các bàn trống, nhìn những cuộn lụa chưa nhuộm như nhìn một phép tính đã có đáp án. “Con thấy chưa?” ông nói. “Quyền lựa chọn không trả được lương.” “Tại sao ông biết danh sách khách hàng?” “Gia đình có cách bảo vệ lợi ích của mình.” “Ông theo dõi Gia Hân?” “Cha chỉ cần biết con bé đang bị ai dẫn sai đường.” Ông đặt một bản thỏa thuận mới lên bàn. Lần này, điều kiện được viết rõ hơn. Tôi đồng ý dự án quỹ. Ninh thị khôi phục toàn bộ đơn hàng. Lễ nhập gia phả diễn ra, tên tôi được thêm vào, Gia Hân giữ nguyên vị trí. Đổi lại, tôi không can thiệp vào việc quản lý quỹ trong ba năm. “Cả hai đứa đều có chỗ,” ông nói. “Không ai phải mất gì.” “Tám người vừa mất việc.” “Vì con muốn chứng minh mình đúng.” Câu ấy đánh trúng điều tôi sợ nhất. Nếu tôi ký, ngày mai họ có thể trở lại. Nếu không ký, tôi đang yêu cầu người khác tiếp tục trả giá cho quyền mà mình nắm. Tôi cầm bút lên. Ninh Chính Dương tưởng mình đã thắng. Ông thả lỏng vai. Nhưng cây bút trên bàn là màu đen, không phải màu đỏ. Tôi viết một dòng dưới bản thỏa thuận. Tôi đồng ý trình đề nghị này trước toàn thể người lao động và hội đồng quỹ, kèm mọi điều kiện về quyền thiết kế, quyền biểu quyết và thời hạn ba năm. Sau đó tôi ký tên vào dòng mình vừa viết. Ninh Chính Dương giật tờ giấy lại. “Con đang làm trò gì?” “Ông nói đây là phương án không ai mất gì. Vậy không cần giấu.” “Đây là chuyện gia đình.” “Tiền lương của ba mươi hai người không phải chuyện gia đình ông.” Ông xé bản thỏa thuận ngay trước mặt tôi. Tôi nhìn những mảnh giấy rơi xuống bàn. “Cảm ơn,” tôi nói. “Vì điều gì?” “Vì chứng minh đề nghị đó không chịu nổi ánh sáng.” Ông bỏ đi mà không mang những mảnh giấy theo. Tôi gom chúng lại, cho vào một phong bì. Nó không đủ làm bằng chứng cho toàn bộ kế hoạch, nhưng đủ chứng minh ông từng dùng đơn hàng đổi lấy quyền biểu quyết. Duy An đến xưởng sau khi tôi gọi. Anh kiểm tra từng mảnh giấy nhưng không nhận phong bì. “Tôi không còn là người phù hợp giữ bằng chứng riêng cho cô,” anh nói. “Tại sao?” “Vì tôi đại diện thủ tục của quỹ. Nếu cô định khiếu nại hành vi gây áp lực, cô cần một người tư vấn độc lập khác hoặc gửi thẳng cho hội đồng có biên nhận.” “Anh có thể giả vờ không thấy xung đột đó.” “Có thể. Nhưng sau này, nếu ai nói quyết định của cô do tôi dẫn dắt, cô sẽ mất chính thứ cô đang bảo vệ.” Anh viết tên hai tổ chức hỗ trợ pháp lý lên một tờ giấy, rồi đẩy về phía tôi. “Cô có thể chọn một nơi, chọn nơi khác hoặc không chọn. Tôi chỉ xác nhận quy trình tiếp nhận bằng chứng của hội đồng.” Tôi nhìn nét chữ ngay ngắn của anh. “Anh không thấy mệt vì luôn đứng đúng phía đường kẻ sao?” “Có.” “Vậy sao vẫn đứng?” “Vì người có nhiều quyền hơn thường gọi việc bước qua đường kẻ là quan tâm.” Anh nhìn những bàn làm việc trống. “Nhưng giữ ranh giới không có nghĩa bỏ mặc. Nếu cô muốn, tôi có thể ở lại khi cô gọi cho đại diện thợ. Không nói thay, chỉ làm chứng rằng cô đã cho họ đủ thông tin.” Tôi gật đầu. “Ở lại đi.” Đó không phải một lời cứu giúp. Chỉ là sự có mặt đúng giới hạn, và lúc ấy tôi cần điều đó hơn một người hứa sẽ giải quyết tất cả. Cuộc gọi chưa bắt đầu thì Gia Hân xuất hiện. Cô đặt điện thoại lên bàn, mở phần cài đặt rồi đưa cho tôi xem. Trong máy có một phần mềm đồng bộ do bộ phận kỹ thuật Ninh thị cài từ hai năm trước, khi cô dùng điện thoại để truy cập tài liệu công ty. Danh bạ, lịch hẹn và nhiều thư trao đổi của cô được sao lưu vào tài khoản doanh nghiệp. “Em không biết họ vẫn còn quyền truy cập,” cô nói. Tôi nhìn những dòng thông báo đăng nhập. “Cô tìm ra bằng cách nào?” “Em hỏi người từng cài máy. Anh ấy không dám đưa tài liệu, nhưng chỉ cho em nơi xem lịch sử.” Cô đặt thêm lên bàn một tập giấy. Đó là thư giao việc từ phòng truyền thông, lịch phát thông cáo nhập gia phả và ba phiên bản bài viết đã chuẩn bị sẵn. Phiên bản thứ nhất dùng nếu tôi ngoan ngoãn ký. Phiên bản thứ hai dùng nếu tôi từ chối: con gái thất lạc bị người ngoài kích động, gây tổn thương cho cha mẹ nuôi dưỡng Gia Hân. Phiên bản thứ ba dùng nếu Gia Hân đứng về phía tôi: người con nuôi bất ổn vì sợ mất vị trí, cần tạm nghỉ để điều trị tinh thần. Gia đình đã chuẩn bị câu chuyện cho mọi lựa chọn của chúng tôi. Chỉ không chuẩn bị khả năng chúng tôi cùng đọc chúng. Tôi khép tập giấy. “Gia Hân, tôi xin lỗi.” Cô không nói không sao. Tôi tiếp tục: “Tôi đã dùng quá khứ của cô làm bằng chứng chống lại cô. Tôi giận họ không tìm tôi, nên cứ nghĩ người được họ nuôi lớn chắc chắn phải biết nhiều hơn. Tôi sai.” “Chị đã làm em muốn bỏ cuộc.” “Tôi biết.” “Nếu em quay lại, không có nghĩa em tin chị vô điều kiện.” “Tôi không cần điều đó.” “Và nếu chị dùng con dấu mà không cho em biết kế hoạch, em sẽ rời đi.” “Được.” “Em cũng có quyền rút tên khỏi mọi bằng chứng em cung cấp nếu thấy nguy hiểm.” “Được.” Gia Hân nhìn tôi hồi lâu. “Vậy chị định làm gì?” “Tôi muốn mở phiên biểu quyết vào ngày lễ nhập gia phả. Không phải xông vào. Chúng ta gửi yêu cầu đúng thủ tục, mời đại diện thợ và công khai tài liệu cho hội đồng trước.” “Cha sẽ ngăn.” “Ông ấy có thể ngăn một buổi lễ. Không thể ngăn phiên họp nếu bốn thành viên hội đồng cùng yêu cầu.” Duy An xác nhận: “Điều lệ cho phép họp tại bất kỳ địa điểm nào có đủ thành viên và thông báo trước bảy ngày. Phòng thờ chỉ là nơi nhà họ Ninh đã mời truyền thông. Nếu hội đồng đồng ý, phiên họp có thể diễn ra ngay sau nghi thức.” Gia Hân hỏi: “Chúng ta có bốn phiếu không?” “Tạm thời có ba,” tôi nói. “Người thứ tư chỉ bỏ phiếu xem tài liệu vì sợ biên bản. Muốn ông ấy ủng hộ thay đổi, cần chứng minh phương án mới không làm quỹ sụp đổ.” Cô Lưu vẫn còn chìa khóa xưởng. Tôi gọi cô trở lại, không phải để hứa việc, mà để hỏi liệu cô có đại diện nhóm thợ xây phương án tài chính không. Cô đồng ý với một điều kiện. “Đừng đưa chúng tôi lên sân khấu làm cảnh,” cô nói. “Nếu có ghế, phải có phiếu.” Chúng tôi bắt đầu từ đó. Trong một tuần, xưởng tính lại từng đơn nhỏ, từng khoản dự phòng và mức lương tối thiểu. Gia Hân liên hệ khách hàng bằng địa chỉ cá nhân mới, nói rõ tranh chấp và không giấu nguy cơ. Duy An chỉ cung cấp mẫu thủ tục công khai của quỹ. Tôi gặp từng thành viên hội đồng, không xin họ tin mình là con ruột, chỉ đưa phương án tách quỹ khỏi tiền tài trợ có điều kiện của Ninh thị. Người thứ tư cuối cùng đồng ý khi cô Lưu trình bày rằng thợ chấp nhận trả phí quản lý nhỏ cho quỹ nếu đổi lại quyền biểu quyết và quyền giữ mẫu. Đó không phải tiền đủ lớn để thay Ninh thị ngay. Nhưng nó chứng minh quỹ có thể tồn tại mà không quỳ xuống. Trước lễ hai ngày, Ninh Chính Dương gọi Gia Hân về nhà. Ông đề nghị giữ nguyên chức vụ giám đốc thiết kế cho cô nếu cô không xuất hiện cùng tôi. Nếu từ chối, cô phải trả lại căn hộ, xe và quyền sử dụng phòng thiết kế của công ty. Gia Hân kể lại trong một quán mì nhỏ, giọng bình thản hơn tôi tưởng. “Cô sẽ chọn thế nào?” tôi hỏi. “Em đã trả chìa khóa xe.” “Còn căn hộ?” “Đang đóng đồ.” “Công việc?” “Em giữ hồ sơ thiết kế thuộc về mình và rời vị trí đại diện. Phần thuộc công ty, em để lại.” Cô khuấy bát mì đã nguội. “Em từng nghĩ nếu con ruột trở về, em sẽ mất tất cả. Hóa ra điều đáng sợ hơn là giữ tất cả rồi không biết thứ nào thật sự thuộc về mình.” Tôi lấy từ túi một chiếc chìa khóa. “Xưởng có phòng nghỉ nhỏ trên gác. Không đẹp, nhưng cô có thể ở tạm.” Gia Hân không nhận ngay. “Đây là lời mời hay món nợ?” “Lời mời. Cô có thể từ chối. Nếu ở, cô tự trả phần điện nước khi có thu nhập.” Cô cầm chìa khóa. “Chị học nhanh đấy.” “Có người sửa rất khó tính.” Gia Hân cười. Đêm trước lễ, tôi đứng một mình trong xưởng. Trên bàn là dải lụa chưa nhuộm, con dấu quỹ và chiếc vòng bạc tôi mang từ nhỏ. Tôi từng nghĩ trở về nghĩa là tìm đúng căn nhà đã đánh mất mình. Bây giờ tôi hiểu có những cánh cửa mở ra chỉ để người bên trong quyết định ta phải biết ơn thế nào. Ngày mai, tên tôi có thể được viết vào gia phả. Nhưng lần đầu tiên, điều đó không còn là thứ tôi sợ mất nhất. Sáng diễn ra lễ nhập gia phả, trời mưa từ lúc chưa sáng. Phủ Ninh treo đèn đỏ dọc ba khoảng sân. Nhân viên truyền thông dựng máy quay bên ngoài phòng thờ, khách mời đứng dưới mái hiên nói về cuộc đoàn tụ hiếm có của một gia đình danh giá. Không ai nhắc đến tám chiếc bàn đang trống ở Xưởng Thanh Kiều. Tôi đến bằng xe thuê cùng cô Lưu. Gia Hân đến sau, kéo một chiếc vali nhỏ. Cô đã trả căn hộ vào sáng đó. Duy An đứng ở cổng với hai thành viên hội đồng. Anh chỉ xác nhận phiên họp đã được thông báo hợp lệ, rồi đưa chúng tôi bản danh sách người tham dự. “Sau nghi thức, bốn thành viên sẽ yêu cầu mở họp,” anh nói. “Nếu bên Ninh thị ngăn đại diện thợ vào, cuộc họp chuyển sang văn phòng quỹ.” “Tôi hiểu.” “Cô vẫn có quyền không tham gia nghi thức.” Tôi nhìn cánh cửa phòng thờ. “Tôi sẽ tham gia. Họ đã dùng tên tôi để mời từng ấy người. Tôi muốn chính họ nghe tôi nói tên ấy thuộc về ai.” Anh gật đầu, không chúc tôi may mắn. Có lẽ anh biết chuyện này không nên phụ thuộc vào may mắn. Tô Mạn Thanh chờ trong phòng thay đồ. Bà chuẩn bị cho tôi một chiếc váy giống màu váy của Gia Hân và đặt chiếc vòng ngọc của bà nội trên bàn. “Con đeo nó đi,” bà nói. “Hôm nay đừng làm cha con khó xử.” “Tám người ở xưởng đang nghỉ việc.” “Sau hôm nay, cha con sẽ giải quyết.” “Nếu tôi ngoan ngoãn?” Bà quay mặt đi. Tôi chợt hiểu mẹ không phải người không nhìn thấy chiếc cân. Bà chỉ luôn đứng bên cạnh, chỉnh lại hai đĩa để chúng tôi tưởng nó cân bằng. “Tại sao mẹ chưa từng hỏi tôi sống thế nào?” tôi hỏi. Môi bà run lên khi nghe chữ mẹ. “Bởi vì mẹ sợ.” “Sợ điều gì?” “Sợ con kể những năm tháng mẹ không có mặt. Sợ dù làm gì cũng không bù được. Gia Hân ở bên mẹ, còn con thì không. Mẹ chỉ muốn giữ cả hai.” “Giữ không giống yêu.” Tôi đặt chiếc vòng ngọc lại. “Nếu mẹ muốn biết tôi đã sống thế nào, sau hôm nay mẹ có thể đến xưởng và hỏi. Nhưng mẹ không được dùng câu trả lời để xin tôi tha thứ.” Tôi rời phòng trong bộ quần áo mình mang đến. Nghi thức bắt đầu đúng chín giờ. Ninh Chính Dương đứng trước bàn thờ, kể về huyết thống, truyền thống và lòng bao dung của gia đình. Ông gọi Gia Hân là đứa con được yêu thương không khác máu mủ. Ông gọi tôi là phần thất lạc cuối cùng đã trở về. Sau đó ông mở gia phả. Tên Gia Hân nằm ở hàng con gái trưởng. Một khoảng trống được chừa bên dưới. Ninh Chính Dương viết tên tôi vào đó bằng mực đen. Khách mời vỗ tay. Ông đặt bản thỏa thuận bên cạnh, đúng như chúng tôi dự đoán. Nội dung nói tôi tự nguyện giữ nguyên cơ cấu gia đình, công nhận quyền đại diện của Gia Hân và giao quyền biểu quyết quỹ cho hội đồng hiện tại trong ba năm. Cây bút đỏ được đặt trước mặt tôi. “Nếu con muốn giữ tên riêng bên ngoài,” ông nói đủ lớn cho khách nghe, “con chỉ cần gạch dòng này. Trong lòng cha mẹ, con vẫn là con.” Đó là lúc cảnh tôi từng kể bắt kịp hiện tại. Mưa gõ lên mái ngói. Mực đen trên tên tôi chưa khô. Gia Hân đứng đối diện trong bộ váy màu trắng ngà mà mẹ đã chuẩn bị cho cả hai. Tôi cầm bút. Gia Hân bước lên, giật tờ gia phả khỏi bàn. “Không ai ký cả.” Ninh Chính Dương quát: “Con còn muốn giữ gì trong nhà này không?” Gia Hân nhìn thẳng ông. “Con muốn giữ tên con. Không phải vị trí cha dùng tên ấy để đổi lấy sự im lặng.” Cô xé bản thỏa thuận làm đôi. Tôi đặt hộp gỗ chứa con dấu Quỹ Tĩnh Lan xuống cạnh bút đỏ. “Trước khi bàn xem tên ai được ở lại,” tôi nói, “chúng ta nên bàn xem nhà họ Ninh còn quyền dùng tên bà nội hay không.” Ninh Chính Dương ra hiệu cho nhân viên tắt máy quay. Gia Hân đã đoán trước. Cô không phát trực tiếp bí mật và cũng không giấu thiết bị ghi âm. Cô chỉ gửi toàn bộ tài liệu cho khách mời và hội đồng bằng thư hẹn giờ trước khi bước vào phòng. Điện thoại bắt đầu rung khắp hai hàng ghế. Duy An đứng lên đọc yêu cầu họp của bốn thành viên hội đồng. Đại diện thợ có tên trong danh sách tham dự. Phiên họp hợp lệ bắt đầu ngay tại căn phòng mà nhà họ Ninh định dùng để công bố chúng tôi thuộc về ai. Ninh Chính Dương vẫn cố ngồi ở đầu bàn. Cô Lưu kéo một chiếc ghế trống đến bên cạnh tôi. “Ghế này dành cho đại diện thợ,” cô nói. Tôi đưa micro cho cô trước. Cô trình bày số người đã mất việc, các điều khoản lấy quyền thiết kế và phương án tài chính thay thế. Gia Hân cung cấp thư giao việc, lịch truyền thông và bằng chứng tài khoản doanh nghiệp đã sao lưu liên hệ riêng của cô. Tôi đưa phong bì chứa bản thỏa thuận bị xé, kèm lời khai rằng mình từng định dùng con dấu mà chưa hỏi người lao động. Ninh Chính Dương cười lạnh. “Con đang tự nhận mình quản lý yếu kém trước tất cả mọi người.” “Đúng,” tôi nói. “Tôi đã sai khi nghĩ có quyền đúng nghĩa là tự mình chọn điều tốt cho người khác. Vì vậy phương án mới không giao quỹ cho tôi.” Tôi trình bản sửa điều lệ. Hội đồng sẽ có hai ghế do người thợ bầu. Mọi dự án chuyển quyền mẫu phải được chính người tạo ra chấp thuận. Ninh thị có thể tài trợ nhưng không được dùng tiền mua phiếu. Quyền phủ quyết của tôi chấm dứt sau khi cơ cấu mới hoạt động đủ một năm. Một thành viên hỏi: “Nếu từ bỏ quyền phủ quyết, cô nhận được gì?” “Quyền biết quyết định sau này không phụ thuộc việc tôi có còn được nhà họ Ninh công nhận hay không.” Ninh Chính Dương đập tay xuống bàn. “Con có biết nếu chống lại gia đình, con sẽ mất quyền hưởng tài sản không?” “Tôi biết.” “Xưởng của con cũng không nhận một đơn nào từ Ninh thị.” “Tôi biết.” “Vậy con vẫn đóng dấu?” Tôi nhìn Gia Hân. Cô không gật đầu thay tôi. Chỉ đứng ở đó, đúng như thỏa thuận: có quyền ở lại và cũng có quyền rời đi. Tôi nhìn cô Lưu cùng những người đã tự chọn cái giá mình chấp nhận. Rồi tôi đóng con dấu xuống nghị quyết phủ quyết dự án cũ. Âm thanh rất nhỏ. Nhưng dấu mực đỏ hiện lên rõ ràng giữa trang giấy. Ninh Chính Dương không còn dự án để công bố, không còn quyền dùng tên Quỹ Tĩnh Lan và cũng không còn hai cô con gái đứng trên sân khấu chứng minh gia đình ông hoàn hảo. Gia Hân tháo huy hiệu Ninh thị trên áo, đặt cạnh con dấu. “Tôi từ chức giám đốc thiết kế và người đại diện hình ảnh,” cô nói. “Các thiết kế thuộc công ty, tôi để lại. Tên và những tác phẩm cá nhân, tôi mang theo.” Bốn thành viên bỏ phiếu thông qua việc tạm tách quỹ khỏi Ninh thị và mở cuộc biểu quyết cơ cấu mới trong ba mươi ngày. Hai người còn lại phản đối. Biên bản ghi đủ cả sáu lá phiếu. Cha tôi đứng giữa phòng nhưng không còn là người quyết định cuộc họp kết thúc lúc nào. Tô Mạn Thanh bật khóc. Lần này không ai chạy đến dỗ bà. Tôi cầm tờ gia phả Gia Hân đã giật khỏi bàn. Tên tôi vẫn ở đó, một dòng mực đen mới viết. Tôi không gạch nó. Cũng không xin họ giữ lại. “Tên này là của tôi,” tôi nói. “Nó không chứng minh ông đã làm tròn vai cha. Và nếu ông xóa nó, huyết thống cũng không biến mất. Từ hôm nay, tôi không dùng gia phả này để đo mình có gia đình hay không.” Tôi đặt tờ giấy xuống rồi bước ra ngoài. Gia Hân kéo vali đi bên cạnh. Cô Lưu đi sau, mang bản nghị quyết có dấu đỏ. Mưa đã ngừng. Ba mươi ngày tiếp theo không giống một kết thúc viên mãn được chuẩn bị sẵn. Quỹ mất hơn nửa khoản tài trợ. Hai cửa hàng tiếp tục hủy đơn. Tám người ở xưởng chưa thể trở lại ngay. Ninh thị gửi thư phản đối cơ cấu mới và từ chối cho quỹ dùng kho trưng bày. Nhưng những tài liệu công khai khiến ba hiệp hội thợ đề nghị góp phí thành viên. Khách sạn Minh Hồ không quay lại hợp đồng cũ, song đồng ý mua một lô nhỏ với tên từng người thợ ghi trong hồ sơ. Đến tháng thứ hai, bốn trong tám người tạm nghỉ trở lại. Hai người tìm được việc khác. Hai người chọn nhận đơn tại nhà. Không ai được trả lại những ngày đã mất. Chúng tôi chỉ có thể xây một cách làm khiến mất mát ấy không lặp lại. Gia Hân ở trên gác xưởng đúng sáu tuần. Sau đó cô thuê một căn hộ nhỏ bên kia con kênh và mở phòng thiết kế riêng. Trên tấm biển trước cửa chỉ có tên cô, không có họ Ninh thị, cũng không có lời giải thích cô là con ruột hay con nuôi của ai. Chúng tôi không gọi nhau là chị em ngay. Có ngày cùng ăn tối. Có ngày tranh cãi đến mức không nhắn tin. Nhưng khi quỹ bầu đại diện mới, cô đề cử cô Lưu chứ không đề cử mình. Còn tôi bỏ phiếu cho phương án trả công của Gia Hân vì nó tốt, không phải vì cô đứng cùng phía. Tô Mạn Thanh đến xưởng vào một chiều cuối thu. Bà không mang quà. Bà ngồi trên chiếc ghế gỗ cạnh cửa và hỏi tôi đã sống ra sao ở Vô Tích. Tôi kể một phần. Bà nghe mà không xin tha thứ. Khi ra về, bà hỏi lần sau có thể đến nữa không. Tôi nói bà có thể hỏi trước. Tôi chưa gọi nơi đó là nhà, cũng chưa đóng cửa vĩnh viễn. Ninh Chính Dương không đến. Ông gửi hai lá thư thông qua trợ lý. Tôi trả lại lá đầu vì nó chỉ nói về danh dự gia đình. Lá thứ hai có một câu hỏi thật: tám người ở xưởng đã trở lại chưa. Tôi trả lời bằng con số, không thêm lời nào. Tần Duy An rút khỏi hồ sơ sau khi cơ cấu quỹ mới được đăng ký. Một tuần sau, anh đến xưởng vào giờ nghỉ, không mang tài liệu. Anh đứng ngoài cửa và hỏi: “Hôm nay tôi có thể mời cô ăn tối với tư cách cá nhân không?” “Tôi có quyền từ chối chứ?” “Luôn có.” “Vậy tôi đồng ý.” Anh nhìn chiếc bàn đầy hóa đơn. “Sau khi cô làm xong?” “Tốt. Tôi không thích người khác quyết định giờ tan làm thay mình.” “Điều đó tôi đã biết.” Buổi tối ấy không có lời hứa lớn. Chúng tôi ăn mì bên bờ kênh. Anh kể mình từng rời một công ty luật vì bị yêu cầu gọi việc che giấu xung đột lợi ích là bảo vệ khách hàng. Tôi kể lần đầu nhuộm hỏng cả mẻ vải nhưng vẫn cố bán vì không muốn thừa nhận sai. Cả hai đều không hoàn hảo nhờ yêu nhau. Chúng tôi chỉ bắt đầu bằng một lời mời không kèm nghĩa vụ. Một năm sau, quyền phủ quyết của tôi chấm dứt đúng hạn. Trong phiên họp cuối cùng, tôi trao con dấu cho hội đồng mới. Dấu mực đỏ được đóng lên bảng thanh toán lô hàng đầu tiên mà tên từng người thợ nằm cạnh phần tiền họ nhận. Cô Lưu nhìn dấu đỏ rồi nói: “Ngày trước người ta dùng màu này để gạch tên cô.” Tôi vuốt dải lụa vừa nhuộm xong trên bàn. Màu đỏ lan đều, không che mất đường dệt bên dưới. “Bây giờ nó dùng để xác nhận một người đã được trả đúng phần của mình.” Ngoài cửa, Gia Hân đang tranh luận với khách về giá thiết kế. Duy An chờ tôi bên cầu, tay cầm hai cốc trà nóng. Tô Mạn Thanh đã nhắn trước để hỏi cuối tuần có thể đến không. Tôi vẫn mang họ Ninh. Không phải vì gia phả cho phép, cũng không phải để chứng minh mình đã thắng người từng sống ở vị trí của tôi. Tôi giữ tên ấy vì đó là tên tôi đã tự chọn sau khi biết toàn bộ sự thật. Gia đình thật không phải nơi không ai từng làm ta tổn thương. Là nơi mỗi người có quyền nói không, quyền rời đi, quyền quay lại và vẫn được nhìn nhận như một con người. Tôi đóng nắp hộp mực đỏ. Lần này, không còn cái tên nào phải bị gạch đi để một cái tên khác được ở lại.