Cha ruột đặt cây bút đỏ trước mặt tôi và bảo tôi tự gạch tên mình khỏi gia phả. Phòng thờ nhà họ Ninh im đến mức tôi nghe rõ tiếng mưa gõ lên mái ngói. Gần năm mươi người đứng thành hai hàng sau lưng ông. Trên bàn gỗ dài, tên Ninh Tư Nguyệt vừa được viết bằng mực đen còn chưa khô. Ninh Chính Dương đẩy tờ giấy về phía tôi. “Con chỉ cần ký vào bản thỏa thuận bên cạnh. Gia đình sẽ công nhận huyết thống, nhưng tên Gia Hân vẫn được giữ ở vị trí hiện tại. Đây là cách ít tổn thương nhất cho tất cả.” Tôi nhìn cây bút. Đầu bút đã thấm mực đỏ. Họ không cần chữ ký để đưa tôi về. Họ cần chính tay tôi xác nhận rằng tôi chưa từng thuộc về nơi này. Ninh Gia Hân đứng đối diện tôi trong bộ váy màu trắng ngà. Cô là người đã sống trong căn nhà này suốt hai mươi bốn năm, gọi cha mẹ tôi là cha mẹ, đứng trong mọi bức ảnh mà lẽ ra có thể có mặt tôi. Tôi từng nghĩ người muốn tôi biến mất nhất sẽ là cô. Nhưng khi tôi vừa cầm bút, Gia Hân bước lên, giật tờ gia phả khỏi bàn. “Không ai ký cả.” Ninh Chính Dương quát tên cô. Gia Hân không lùi. Cô xé bản thỏa thuận làm đôi, đặt hai nửa giấy trước mặt ông. “Cha dùng tên chị ấy để giữ quỹ. Dùng tên con để giữ thể diện. Cha có từng hỏi chúng con muốn giữ thứ gì không?” Mọi ánh mắt chuyển sang tôi. Tôi lấy từ túi áo một chiếc hộp gỗ nhỏ. Bên trong là con dấu của Quỹ Tĩnh Lan, quỹ do bà nội tôi lập trước khi qua đời. Tôi đặt nó xuống cạnh bút đỏ. “Trước khi bàn xem tên ai được ở lại,” tôi nói, “chúng ta nên bàn xem nhà họ Ninh còn quyền dùng tên bà nội hay không.” Sáu tuần trước, tôi còn chưa biết con dấu ấy tồn tại. Sáng hôm đó, tôi đang đứng giữa Xưởng Thanh Kiều, cố giải thích với ba mươi hai người rằng chúng tôi có thể không nhận được lương đúng hạn. Xưởng nằm ở rìa khu phố cũ phía nam Tô Châu. Nơi này vốn là một kho nhuộm bỏ hoang, mái thấp, tường gạch xám và có con kênh nhỏ chạy sau sân. Chúng tôi sửa lại thành xưởng chung cho những người thợ từng bị các nhà máy lớn cho nghỉ vì tuổi cao hoặc vì không chịu giao mẫu dệt gia truyền. Công việc của tôi không có gì cao sang. Tôi tìm đơn hàng, tính tiền nguyên liệu, kiểm tra màu vải và bảo đảm người làm ra sản phẩm được ghi tên trong hồ sơ bán hàng. Sáng ấy, những cuộn lụa chưa nhuộm xếp dọc bức tường. Màu trắng ngà của chúng khiến căn phòng càng lạnh. “Đơn của khách sạn Minh Hồ bị hủy rồi sao?” cô Lưu hỏi. Tôi gấp lá thư đặt trên bàn. “Không phải khách sạn hủy. Công ty trung gian đổi nhà cung cấp.” “Công ty nào?” Tôi không muốn nói, nhưng mọi người đều đang nhìn tôi. “Ninh thị.” Không khí trong xưởng lặng xuống. Ninh thị là doanh nghiệp lụa lớn nhất Tô Châu. Họ không chỉ bán vải. Họ sở hữu cửa hàng, khu trưng bày, nhà kho và những hợp đồng đủ lớn để quyết định xưởng nhỏ nào sống được qua mùa thấp điểm. Đơn hàng Minh Hồ chiếm gần một nửa doanh thu ba tháng tới của chúng tôi. Nếu mất nó, xưởng vẫn có thể mở cửa, nhưng tám người phải nghỉ việc trước. Tôi đang định nói về khoản dự phòng thì điện thoại rung. Một người đàn ông tự giới thiệu là trợ lý của Ninh Chính Dương. Ông ta nói kết quả xét nghiệm huyết thống đã có, xe đang đợi ngoài cổng và gia đình muốn gặp tôi trước buổi trưa. Tôi nhìn qua cửa kính. Một chiếc xe màu đen đỗ bên kia con kênh, sạch đến mức lạc lõng giữa những mái nhà còn đọng nước mưa. Cô Lưu hỏi nhỏ: “Có chuyện gì vậy?” Tôi nắm điện thoại chặt hơn. “Họ tìm được cha mẹ ruột của tôi.” Không ai nói gì trong vài giây. Tôi lớn lên ở một nhà nuôi trẻ tại Vô Tích. Hồ sơ ghi rằng tôi được tìm thấy ở bến xe khi chưa đầy một tuổi, trên người chỉ có chiếc vòng bạc khắc một chữ Nguyệt. Tôi từng tìm cha mẹ hai lần. Lần đầu năm mười tám tuổi, tôi hết tiền sau ba tháng. Lần thứ hai năm hai mươi hai tuổi, người nhận hồ sơ lừa tôi nộp một khoản phí rồi biến mất. Tôi đã thôi tìm từ lâu. Vậy mà đúng ngày Ninh thị rút đơn hàng lớn nhất của xưởng, nhà họ Ninh tìm thấy tôi. Tôi không tin sự trùng hợp đó. Tôi nhờ cô Lưu giữ danh sách chi phí, rồi đi ra xe. Người trợ lý mở cửa sau nhưng không nhìn thẳng vào tôi. Trên ghế có một tập giấy mỏng. Trang đầu là kết quả xét nghiệm. Những con số không khó hiểu. Chúng nói tôi là con ruột của Ninh Chính Dương và Tô Mạn Thanh với xác suất gần như tuyệt đối. Trang thứ hai là lịch trình. Mười một giờ gặp riêng cha mẹ. Mười hai giờ ăn trưa với gia đình. Hai giờ thử trang phục. Bốn giờ chụp ảnh. Tôi lật sang trang cuối. Không có dòng nào hỏi tôi có đồng ý hay không. “Ông Ninh chuẩn bị lịch này?” Người trợ lý đáp: “Chủ tịch muốn mọi việc được xử lý ổn thỏa.” “Tôi chưa nói sẽ về.” Ông ta im lặng một lúc rồi nói: “Cô sẽ hiểu sau khi gặp gia đình.” Phủ Ninh nằm bên một nhánh kênh ở phía tây thành phố. Cổng gỗ sơn đen, sân lát đá và những dãy nhà mái cong được sửa mới đến mức không còn dấu thời gian. Người giúp việc dẫn tôi qua ba khoảng sân mà không giới thiệu nơi nào dùng làm gì. Tôi chỉ nhớ mùi trầm quá đậm và những bức ảnh gia đình treo dọc hành lang. Trong ảnh nào cũng có một cô gái. Cô ấy lớn hơn tôi vài tháng, gương mặt trái xoan, tóc luôn được chải gọn. Từ đồng phục tiểu học đến váy tốt nghiệp, từ bữa cơm gia đình đến lễ kỷ niệm công ty, cô đứng ở vị trí chính giữa. Tên cô là Ninh Gia Hân. Người con gái nhà họ Ninh nhận nuôi ba tháng sau khi tôi mất tích. Ninh Chính Dương và Tô Mạn Thanh chờ tôi trong phòng khách. Mẹ ruột tôi đứng dậy trước. Bà bước hai bước rồi dừng lại, như thể không biết nên ôm tôi hay bắt tay. “Con giống bà nội,” bà nói. Tôi không biết đó là lời chào hay một cách xác nhận hàng hóa. Ninh Chính Dương chỉ chiếc ghế đối diện. “Ngồi đi.” Ông đặt trước mặt tôi một tập hồ sơ khác. Nó không dày, nhưng được chia sẵn bằng những mảnh giấy màu. “Gia đình xin lỗi vì tìm thấy con quá muộn,” ông nói. “Chúng ta sẽ bù đắp. Nhà ở, xe, một vị trí tại công ty và khoản tiền đủ để con không phải lo lắng.” “Tại sao bây giờ mới tìm thấy tôi?” Tô Mạn Thanh siết hai tay. “Cảnh sát liên hệ lại hồ sơ cũ. Vòng bạc của con trùng với ảnh lưu trong nhà.” “Vậy tại sao đơn hàng của Xưởng Thanh Kiều bị rút đúng sáng nay?” Ninh Chính Dương nhìn tôi lâu hơn. “Đó là quyết định kinh doanh.” “Do ai ký?” “Con vừa về nhà đã muốn chất vấn cha sao?” “Tôi chưa về nhà. Tôi được xe của ông đưa đến một cuộc họp.” Tô Mạn Thanh vội nói: “Cha con chỉ muốn bảo vệ mọi người. Gia Hân không có lỗi. Con bé đã sống với chúng ta hai mươi bốn năm. Nếu công bố đột ngột, truyền thông sẽ biến hai đứa thành câu chuyện để bàn tán.” Tôi nhìn những mảnh giấy màu trong hồ sơ. “Vậy phương án của mọi người là gì?” Ninh Chính Dương mở trang có đánh dấu đỏ. “Trước mắt, chúng ta xác nhận con là người thân nhưng chưa đổi tên trên giấy tờ hay gia phả. Con có thể dùng tên hiện tại, nhận quyền lợi như một thành viên trong nhà. Gia Hân tiếp tục đại diện gia đình trước công chúng.” “Còn xưởng của tôi?” “Sau khi mọi việc ổn định, Ninh thị có thể xem xét đầu tư.” Tôi hiểu rồi. Họ không cắt đơn để trừng phạt tôi. Họ cắt đơn để tôi bước vào căn phòng này với một thứ đang cần cứu. Danh phận được đặt bên này bàn. Ba mươi hai việc làm được đặt bên kia. “Ông muốn tôi giữ kín chuyện huyết thống để đổi lấy đơn hàng?” Ninh Chính Dương không trả lời thẳng. “Ta muốn con học cách nghĩ cho gia đình.” “Tôi vừa biết gia đình này tồn tại chưa đầy một giờ.” Cửa phòng khách mở ra. Ninh Gia Hân bước vào. Cô mặc áo khoác màu xám nhạt, trong tay ôm một ống đựng bản vẽ. Khi nhìn thấy tôi, cô dừng lại. Ánh mắt cô lướt qua mặt tôi, chiếc vòng bạc trên cổ tay rồi tập hồ sơ trước mặt cha. Không ai giới thiệu chúng tôi. Cuối cùng, Gia Hân tự nói: “Chị là Tư Nguyệt?” Tôi gật đầu. Cô đặt ống bản vẽ xuống bàn. “Em là Gia Hân.” Giọng cô bình tĩnh, nhưng ngón tay vẫn giữ chặt quai túi. Tô Mạn Thanh kéo cô ngồi xuống bên cạnh. “Gia Hân, cha mẹ đã nói với con rồi. Chuyện này không làm thay đổi tình cảm của chúng ta.” Gia Hân nhìn bà. “Vậy điều gì sẽ thay đổi?” Không ai trả lời. Cô quay sang tôi. “Cha đã đề nghị chị vào công ty chưa?” “Có.” “Có nói vị trí của chị sẽ làm gì không?” “Chưa.” Gia Hân cười rất nhạt. “Vị trí của em cũng chưa bao giờ được nói rõ. Chỉ khi cần chụp ảnh hoặc đứng trên sân khấu, mọi người mới nhớ em đại diện cho điều gì.” Ninh Chính Dương gõ ngón tay lên bàn. “Gia Hân.” Cô ngừng nói. Tôi nhận ra chúng tôi đã được chuẩn bị để nhìn nhau như hai đầu của một chiếc cân. Nếu tôi được thêm một thứ, cô sẽ mất một thứ. Nếu cô ở lại, tôi phải chứng minh mình xứng đáng hơn. Nhưng chiếc cân không thuộc về chúng tôi. Người đặt nó giữa phòng vẫn đang ngồi ở đầu bàn. Tôi đẩy tập hồ sơ về phía Ninh Chính Dương. “Tôi không ký gì hôm nay.” “Còn xưởng?” “Tôi sẽ tự tìm cách.” “Con nghĩ vài đơn hàng nhỏ có thể cứu ba mươi hai người sao?” “Tôi nghĩ dùng việc làm của họ để ép tôi gọi ông là cha không khiến ông giống một người cha hơn.” Tô Mạn Thanh bật khóc. Ninh Chính Dương đứng dậy, nhưng Gia Hân lên tiếng trước. “Để em đưa chị ra.” Chúng tôi đi qua hành lang treo đầy ảnh của cô. Khi đến sân thứ hai, Gia Hân dừng dưới mái hiên. “Chị nghĩ em biết họ tìm thấy chị từ lúc nào?” “Tôi không biết.” “Em biết từ tối qua.” Cô mở ống bản vẽ trong tay. Bên trong không phải thiết kế mới, mà là ba tờ mẫu dệt có dấu của Xưởng Thanh Kiều. Tôi nhận ra ngay. Đó là bộ hoa văn chúng tôi gửi cho khách sạn Minh Hồ, bộ mẫu đã bị rút đơn sáng nay. “Vì sao cô có chúng?” “Phòng thiết kế Ninh thị đưa cho em chỉnh lại rồi đăng ký dưới tên công ty.” Cô trao cả ống bản vẽ cho tôi. “Em chưa sửa gì. Nhật ký nhận mẫu và thư giao việc đều ở trong đó.” Tôi không nhận ngay. “Cô muốn gì?” “Muốn chị đừng nghĩ em là người lấy đơn hàng.” “Còn nếu tôi dùng những thứ này chống lại Ninh thị?” Gia Hân nhìn về phòng khách phía sau. “Thì ít nhất có một chuyện trong nhà này không được quyết định thay chúng ta.” Tôi cầm ống bản vẽ. Đó là lần đầu tiên người trong nhà họ Ninh trả lại cho tôi một thứ vốn thuộc về tôi. Ba ngày sau, bằng nhật ký giao nhận và bản mẫu có chữ ký, Xưởng Thanh Kiều giữ được quyền sở hữu thiết kế. Khách sạn Minh Hồ chưa khôi phục đơn hàng, nhưng Ninh thị không thể dùng mẫu của chúng tôi. Đó chưa phải chiến thắng đủ để trả lương. Nhưng nó khiến lời đe dọa của Ninh Chính Dương mất đi một nửa sức nặng. Chiều hôm ấy, tôi nhận được thư mời dự cuộc họp của Quỹ Tĩnh Lan. Quỹ mang tên bà nội tôi, người phụ nữ đã gây dựng xưởng lụa đầu tiên của nhà họ Ninh. Thư mời nói tôi là “người có liên quan đến di nguyện của người sáng lập”. Không ghi con gái thất lạc, không ghi người thừa kế, cũng không ghi khách mời. Cuộc họp diễn ra ở một tòa nhà nhỏ bên bờ kênh Bình Giang, không phải trụ sở Ninh thị. Khi tôi đến, Tần Duy An đang đứng cạnh cửa sổ, kiểm tra hai tập tài liệu giống nhau. Anh khoảng gần ba mươi tuổi, mặc áo sơ mi trắng và áo khoác sẫm màu, không có trợ lý đi cùng. Anh tự giới thiệu là luật sư độc lập do hội đồng quỹ thuê. “Tôi không làm cho Ninh thị,” anh nói trước khi tôi hỏi. “Và hôm nay cô có quyền rời đi bất cứ lúc nào.” “Anh thường phải nói câu đó với người nhà họ Ninh sao?” “Thường xuyên hơn mức tôi mong muốn.” Gia Hân đã ngồi ở cuối bàn. Trước mặt cô cũng có một tập tài liệu. Tôi nhìn Duy An. “Vì sao cô ấy ở đây?” “Vì điều lệ yêu cầu mọi người đang bị quyết định thay phải được xem cùng một thông tin.” Anh đẩy một tập về phía tôi. Không ai bảo tôi ký cam kết giữ kín trước. Không ai lấy việc làm của người khác đặt lên bàn. Không ai nói tôi nên biết ơn vì được đọc. Trang đầu là báo cáo dự án mới của Quỹ Tĩnh Lan. Ninh thị muốn dùng tên quỹ để mở khu trưng bày thủ công trong một khách sạn lớn. Bề ngoài, dự án sẽ giúp thợ truyền thống bán sản phẩm. Nhưng phần hợp đồng phía sau yêu cầu mọi mẫu thiết kế tạo ra trong chương trình thuộc quyền sử dụng lâu dài của Ninh thị. Tôi đọc đến dòng đó rồi ngẩng lên. “Người thợ có quyền từ chối không?” Duy An đáp: “Nếu hợp đồng được thông qua như hiện tại, họ có thể từ chối tham gia. Nhưng nếu đã tham gia, họ gần như không có quyền với mẫu mới.” Gia Hân nói: “Dự án này do cha tôi đứng tên công bố tháng sau.” “Tại sao quỹ chưa bỏ phiếu?” tôi hỏi. Duy An mở trang cuối. “Vì thiếu một người có quyền biểu quyết.” Trên danh sách hội đồng có sáu cái tên. Dòng thứ bảy để trống, chỉ ghi một câu: Người được bà Ninh Tĩnh Lan chỉ định khi đủ hai mươi bốn tuổi. Tôi nhìn con số ấy. Tôi vừa tròn hai mươi bốn tuổi cách đây mười một ngày. “Người đó là ai?” Duy An không trả lời ngay. Anh đặt lên bàn một phong thư niêm kín. “Muốn mở thư, cần ghép đủ hai trang phụ lục của điều lệ. Quỹ giữ một trang. Trang còn lại đang ở nhà họ Ninh.” Gia Hân dựa lưng vào ghế. “Và cha sẽ không giao nó nếu không nhận được thứ ông ấy muốn.” Tôi nhìn dòng trống trên danh sách, rồi nhìn cô. Lần đầu gặp nhau, chúng tôi đều nghĩ người kia có thể lấy chỗ của mình. Bây giờ, trước mặt chúng tôi là một chiếc ghế mà không ai biết thuộc về ai. Duy An khép tập tài liệu. “Trước khi hai cô quyết định tranh nó,” anh nói, “tôi đề nghị hai cô hỏi xem ai là người đặt chiếc ghế ở đó, và họ muốn dùng người ngồi lên nó để làm gì.” Câu nói ấy khiến tôi nhớ đến tập lịch trình trên xe. Nhà họ Ninh không chỉ chuẩn bị chỗ cho từng người. Họ còn chuẩn bị sẵn cách chúng tôi phải ngồi.