Trang phụ lục còn lại nằm trong phòng lưu niệm của bà nội, nơi cửa chỉ mở vào ngày giỗ. Gia Hân nói điều đó khi chúng tôi rời văn phòng quỹ. Cô đi trước tôi nửa bước, gót giày gõ đều trên con đường lát đá cạnh kênh. “Tại sao cô biết?” tôi hỏi. “Vì ba năm trước, cha bảo em tìm một bản điều lệ cũ. Em thấy chiếc hộp đựng tài liệu trong tủ của bà, nhưng cha tự lấy nó đi.” “Cô đã đọc trang đó chưa?” “Chưa. Khi ấy em nghĩ chỉ là giấy tờ quỹ.” “Còn bây giờ?” “Bây giờ em nghĩ trong nhà đó không có tờ giấy nào được cất riêng mà vô tình cả.” Chúng tôi dừng ở đầu cầu. Người qua đường phải lách giữa hai đứa, nhưng không ai muốn bước sang phía kia trước. Gia Hân nhìn ống bản vẽ tôi đang mang. “Chị vẫn chưa tin em.” “Tôi mới gặp cô bốn ngày.” “Em cũng mới gặp chị bốn ngày.” “Vậy chúng ta thống nhất.” “Thống nhất điều gì?” “Không cần tin nhau để cùng yêu cầu được xem một tờ giấy có thể quyết định cả hai.” Gia Hân bật cười lần đầu tiên. Nụ cười ngắn, nhưng không còn giống biểu cảm cô dùng trong ảnh gia đình. “Được,” cô nói. “Nhưng nếu cha hỏi, chị là người đề nghị.” “Tại sao?” “Vì trong bốn ngày qua, chị đã khiến ông nổi giận nhiều hơn em làm trong bốn năm. Em muốn quan sát thêm.” Ngày giỗ của bà Ninh Tĩnh Lan còn hai tuần. Chúng tôi không thể đợi. Gia Hân gửi yêu cầu bằng văn bản, nói cô cần đối chiếu lịch sử quỹ để chuẩn bị bài phát biểu cho dự án. Tôi gửi một yêu cầu khác với tư cách người được nhắc trong điều lệ. Ninh Chính Dương từ chối cả hai trong cùng một buổi chiều. Lý do ông đưa ra rất khác nhau. Với Gia Hân, ông nói cô không nên lo việc pháp lý. Với tôi, ông nói tôi chưa phải người nhà. Tần Duy An đọc hai thư trả lời rồi đặt cạnh nhau. “Đây là bằng chứng tốt,” anh nói. “Tốt ở đâu?” Gia Hân hỏi. “Nó chứng minh ông Ninh không từ chối dựa trên một nguyên tắc. Ông ấy dùng quan hệ khác nhau để từ chối cùng một quyền tiếp cận.” Tôi nhìn anh. “Chúng tôi có thể buộc ông ấy giao trang giấy không?” “Quỹ có thể yêu cầu tòa xác định quyền lưu giữ, nhưng sẽ mất thời gian. Cách nhanh hơn là hội đồng quỹ bỏ phiếu yêu cầu bản sao.” “Hội đồng có sáu người. Ba người làm việc với cha.” Gia Hân nhắc. “Và ba người còn lại?” “Họ không muốn gây chuyện trước lễ công bố dự án.” Duy An gật đầu. “Vậy hai cô cần khiến việc không xem tài liệu trở nên rủi ro hơn việc xem.” Tôi chống tay lên bàn. “Anh đang dạy chúng tôi gây áp lực?” “Không. Tôi đang nói rõ quyền lựa chọn. Hai cô có thể yêu cầu phiên họp, có thể công khai việc thiếu tài liệu, hoặc có thể không làm gì. Tôi sẽ xác nhận thủ tục, nhưng không chọn thay.” Gia Hân nghiêng đầu. “Anh luôn nói như một bản hướng dẫn sử dụng sao?” “Chỉ khi người đối diện đã sống quá lâu với những người cố giấu nút thoát.” Tôi không nhịn được cười. Duy An nhìn sang tôi, vẻ mặt vẫn bình thản, nhưng khóe môi hơi động. Anh không hỏi tại sao tôi cười. Cũng không biến khoảnh khắc đó thành sự thân mật mà tôi chưa cho phép. Chúng tôi chọn yêu cầu phiên họp. Tôi không quen với phòng họp có mặt bàn bóng đến mức nhìn thấy trần nhà. Tôi quen ngồi quanh chiếc bàn gỗ ở xưởng, nơi ai cũng có thể dùng bút ghi thẳng số tiền cần trả lên mặt giấy gói hàng. Hội đồng Quỹ Tĩnh Lan gồm sáu người. Hai người từng làm cùng bà nội. Một người đại diện hiệp hội thợ. Ba người còn lại có quan hệ kinh doanh với Ninh thị. Ninh Chính Dương không phải thành viên, nhưng vẫn xuất hiện với tư cách khách mời. Ông ngồi ở đầu bàn. Tôi bắt đầu hiểu vì sao Gia Hân nói vị trí đại diện chưa bao giờ có mô tả công việc. Trong nhà họ Ninh, chiếc ghế đầu bàn tự biến người ngồi đó thành người có quyền, dù điều lệ không hề ghi tên họ. Duy An mở cuộc họp bằng việc đọc yêu cầu của chúng tôi. Anh không nói thay. Khi đến lượt, anh đẩy micro về phía Gia Hân trước. Cô nhìn micro vài giây. Trong mọi video quảng bá của Ninh thị, cô nói trôi chảy trước hàng trăm người. Nhưng đó là những bài phát biểu có sẵn, những câu về truyền thống và lòng biết ơn. Lần này, không ai viết hộ cô. “Tôi đề nghị hội đồng yêu cầu bản sao trang phụ lục đang được ông Ninh lưu giữ,” cô nói. “Tôi từng được giao tìm tài liệu đó nhưng không được phép đọc. Nếu tên tôi tiếp tục được dùng để đại diện dự án, tôi cần biết dự án đang che điều gì.” Ninh Chính Dương ngắt lời. “Con đang bị người khác lợi dụng.” Gia Hân quay sang ông. “Người khác là ai?” Ông nhìn tôi. Gia Hân tiếp tục: “Nếu cha muốn nói chị Tư Nguyệt, hãy nói tên chị ấy. Nếu cha nghĩ em không đủ khả năng tự quyết, hãy nói thẳng điều đó trước hội đồng.” Căn phòng im lặng. Tôi nhận micro. “Tôi đề nghị cùng một việc. Tôi không yêu cầu được công nhận là người có quyền phủ quyết trước khi đọc đủ điều lệ. Tôi chỉ yêu cầu không ai được dùng phần tài liệu bị giấu để quyết định tôi là ai.” Đại diện hiệp hội thợ giơ tay đầu tiên. Hai người từng làm với bà nội giơ tay sau đó. Ba người có quan hệ với Ninh thị nhìn Ninh Chính Dương. Ông không nói, nhưng một người vẫn giơ tay. Có lẽ ông ta nhận ra nếu bỏ phiếu chống, biên bản sẽ ghi rằng mình ủng hộ việc giữ tài liệu quỹ trong nhà riêng của chủ tịch doanh nghiệp hưởng lợi từ dự án. Bốn trên sáu phiếu. Yêu cầu được thông qua. Đó là lần đổi thế đầu tiên. Ninh Chính Dương không phản đối tại chỗ. Ông chỉ đứng dậy, chỉnh cổ tay áo rồi nói với tôi: “Con đang biến chuyện gia đình thành trò công khai.” Tôi đáp: “Ông dùng một quỹ công cộng để mặc cả chuyện gia đình trước.” Trang phụ lục được chuyển đến văn phòng quỹ sáng hôm sau. Duy An gọi chúng tôi đến cùng lúc. Trên bàn là một túi niêm phong có chữ ký của người giao, người nhận và hai thành viên hội đồng. Anh kiểm tra dấu niêm phong trước mặt chúng tôi rồi mới mở. Trang giấy màu ngà, mép đã ố. Nửa đầu điều khoản nằm trên trang quỹ giữ. Nửa sau nằm trên trang nhà họ Ninh giữ. Khi đặt cạnh nhau, câu hoàn chỉnh hiện ra. Người được chỉ định không nhận quyền vì huyết thống, mà vì đã sống độc lập ngoài sự kiểm soát của Ninh thị đến năm hai mươi bốn tuổi. Người đó có quyền phủ quyết mọi dự án dùng tên Quỹ Tĩnh Lan nếu dự án chuyển quyền thiết kế của thợ cho doanh nghiệp tài trợ. Dòng cuối ghi tên người được chỉ định bằng cách mô tả, không phải tên riêng. Đứa trẻ đeo vòng bạc có khắc chữ Nguyệt, sinh vào đêm mười bảy tháng tư. Tôi đọc lại ba lần. Gia Hân đứng bên cạnh, không chạm vào giấy. “Là chị,” cô nói. Tôi nhìn Duy An. “Chỉ mô tả này đã đủ sao?” “Cùng hồ sơ sinh và kết quả huyết thống, đủ để hội đồng xác nhận. Nhưng còn phong thư.” Anh đặt phong thư niêm kín giữa hai trang điều lệ. Dấu sáp mang hình cành dâu. Tôi tưởng tay mình sẽ run. Nó không run cho đến khi Gia Hân nói: “Chị có muốn em ra ngoài không?” Tôi nhìn cô. Đó là câu hỏi đầu tiên trong quá trình này cho tôi quyền chọn ai được ở lại. “Không,” tôi nói. “Nếu thư nhắc đến cô, cô nên nghe.” Duy An hỏi lại: “Cô Tư Nguyệt có đồng ý mở thư với cô Gia Hân và tôi làm người chứng kiến không?” “Tôi đồng ý.” Anh mới cắt niêm phong. Thư do bà nội viết sáu năm trước. Bà nói đã tìm được dấu vết của tôi khi tôi mười tám tuổi. Bà đến Vô Tích, đứng bên kia đường nhìn tôi làm thêm tại một cửa hàng vải. Bà không bước vào. Tôi phải dừng đọc ở đó. Mọi cảm giác biết ơn biến mất. Bà đã tìm thấy tôi. Bà có tiền, có xe và có một gia đình đang sống trong căn nhà rộng đến mức tôi có thể đi lạc giữa ba khoảng sân. Còn tôi khi ấy dùng mì gói chia làm hai bữa để dành tiền học. Tôi đặt thư xuống. “Bà biết tôi còn sống nhưng bỏ mặc tôi.” Duy An không phủ nhận. “Thư còn một đoạn.” “Tôi không muốn nghe lời giải thích.” “Chị có thể dừng,” Gia Hân nói. “Nhưng nếu dừng, câu này sẽ ở lại đúng nơi họ muốn.” Tôi quay sang cô. Cô chỉ vào dòng tiếp theo. Bà nội viết rằng bà đã về nhà sau chuyến đi và nói với Ninh Chính Dương mình tìm được manh mối. Phản ứng đầu tiên của ông không phải hỏi tôi sống thế nào. Ông hỏi nếu đưa tôi về, quyền biểu quyết trong công ty sẽ được tính ra sao, truyền thông sẽ nói gì về Gia Hân và có thể dùng việc nhận con để thuyết phục các cổ đông lớn tuổi hay không. Bà hiểu nếu đưa tôi về lúc đó, tôi sẽ từ một cô gái nghèo thành một lá phiếu. Bà không tin bản thân còn đủ thời gian thay đổi gia đình, nên lập một điều kiện khác. Người nhận quyền phải sống ngoài Ninh thị đến năm hai mươi bốn tuổi, đủ lâu để có một nghề, một lựa chọn và một cái tên không phụ thuộc họ Ninh. Bà xin lỗi vì đã không hỏi tôi có muốn được bảo vệ theo cách ấy không. Dòng cuối viết: Nếu con đọc được thư này, đừng dùng quyền ta để lại chỉ để bước vào căn nhà đã từng không chọn con. Hãy dùng nó để bảo vệ quyền lựa chọn của một người khác, rồi con sẽ biết ai thật sự là gia đình mình. Tôi gấp thư lại. Trong sáu năm, bà nội đã biến sự im lặng của mình thành một kế hoạch. Kế hoạch ấy cho tôi quyền, nhưng cũng lấy khỏi tôi cơ hội quyết định có muốn gặp bà hay không. Tôi không biết nên tha thứ hay căm giận. Gia Hân đứng rất yên. “Bà có biết em tồn tại không?” cô hỏi. Duy An chỉ một đoạn nhỏ ở mép dưới. Bà viết rằng đứa trẻ được nhận nuôi không phải vật thay thế. Nếu gia đình dùng con bé để ngăn người kia trở về, hội đồng phải bảo đảm cả hai đều có quyền được nghe sự thật. Gia Hân cười, nhưng mắt đỏ lên. “Ít nhất có một người trong nhà đó biết em là người.” Tôi nghe câu ấy và bỗng khó chịu. “Cô biết bức thư này từ trước phải không?” Gia Hân sững lại. “Tại sao chị nghĩ vậy?” “Cô biết trang giấy ở đâu. Cô biết cha muốn giữ nó. Cô luôn đi trước tôi một bước.” “Em biết có giấy. Em không biết nội dung.” “Cô sống trong nhà đó hai mươi bốn năm.” “Và chị nghĩ sống trong đó nghĩa là được biết mọi thứ?” Tôi đứng dậy. “Ít nhất cô có một căn phòng, có trường học, có người gọi là cha mẹ.” Gia Hân cũng đứng lên. “Đúng. Em có tất cả những thứ chị thiếu. Nhưng mỗi thứ đều đi kèm điều kiện em phải là đứa con họ cần. Chị muốn giận em vì điều đó, cứ giận. Đừng biến em thành lời giải thích dễ nhất cho việc họ bỏ rơi chị.” “Cô không phải người bị bỏ lại ngoài cửa.” “Còn chị không phải người lớn lên trong nhà nhưng chưa từng biết nếu con ruột trở về thì mình có bị trả lại hay không.” Duy An không chen vào. Anh để sự im lặng nằm giữa chúng tôi đủ lâu, rồi mới nói: “Hai cô đang có cùng một tập sự thật, nhưng mỗi người chỉ nghe được phần chứng minh nỗi đau của mình.” Tôi quay sang anh. “Anh không cần phân xử.” “Tôi không phân xử. Tôi nhắc rằng quyền phủ quyết chỉ có hiệu lực với dự án, không có hiệu lực với cảm xúc của người khác.” Tôi cầm phong thư và rời đi. Ba ngày sau, Ninh Chính Dương công bố lễ nhập gia phả. Thông cáo nói gia đình đã tìm lại được con gái ruột sau nhiều năm, nhưng vì tôn trọng tình cảm của người con được nuôi lớn, hai bên đã thống nhất giữ nguyên vị trí của Gia Hân. Tôi được mô tả là cô gái hiểu chuyện, tự nguyện không tranh danh phận và sẵn sàng cùng gia đình tiếp nối di sản của bà nội. Tôi chưa từng đồng ý một chữ. Cùng ngày, Ninh thị gửi lại hợp đồng cho Xưởng Thanh Kiều. Đơn hàng Minh Hồ được khôi phục với điều kiện xưởng tham gia dự án Quỹ Tĩnh Lan. Nếu ký, ba mươi hai người có việc. Nếu dự án được thông qua, mọi mẫu mới họ tạo có thể thuộc quyền Ninh thị. Ninh Chính Dương gọi cho tôi vào buổi tối. “Cha đã cho con cách giữ xưởng.” “Ông đang yêu cầu tôi đổi quyền của thợ lấy danh phận của mình.” “Không ai lấy quyền của họ. Công ty sẽ trả tiền.” “Trả tiền không có nghĩa được lấy tên và mẫu của người khác.” “Con sống bên ngoài quá lâu nên không hiểu quy mô. Muốn cứu nhiều người, đôi khi phải hy sinh một phần quyền nhỏ.” “Tại sao phần phải hy sinh luôn thuộc về người không ngồi trong phòng họp?” Ông im lặng rồi nói: “Con dấu quỹ đang ở văn phòng. Chỉ cần con đồng ý dự án, lễ nhập gia phả sẽ diễn ra như kế hoạch. Tên con được ghi vào vị trí xứng đáng.” “Tôi không cần ông bán lại tên mình cho tôi.” “Vậy con muốn gì?” Tôi nhìn những cuộn lụa trắng trong xưởng. “Tôi muốn ông ngừng quyết định thay người khác rồi gọi đó là gia đình.” Ông cúp máy. Sáng hôm sau, tài khoản hoạt động của Quỹ Tĩnh Lan bị đóng băng vì Ninh thị rút phần tài trợ tạm ứng. Theo thủ tục, quỹ chưa thể dùng khoản dự phòng cho đến khi hội đồng họp lại. Xưởng Thanh Kiều mất cả đơn cũ lẫn cơ hội nhận khoản hỗ trợ nguyên liệu. Cô Lưu đặt bảng lương trước mặt tôi. “Chúng ta cầm được bao lâu?” “Tám ngày.” “Nếu cho tám người nghỉ?” “Một tháng.” “Cô định làm gì?” Tôi nhìn chiếc hộp đựng con dấu quỹ mà Duy An vừa bàn giao theo biên bản. Nó nhỏ hơn tôi tưởng. Một vật có thể khiến người ta tranh nhau hóa ra chỉ vừa lòng bàn tay. “Tôi sẽ phủ quyết dự án.” “Rồi tiền ở đâu?” Tôi không trả lời được. Tối đó, Gia Hân đến xưởng. Cô không mặc váy hay giày cao gót. Cô xắn tay áo, đi qua những bàn cắt vải rồi dừng trước bảng lương. “Chị định dùng con dấu ngay?” “Phải.” “Đại diện thợ đã xem phương án thay thế chưa?” “Chưa.” “Hội đồng đã biết chị định yêu cầu điều gì sau khi phủ quyết chưa?” “Chưa.” Gia Hân gật đầu. “Vậy chị khác cha ở đâu?” Tôi quay phắt lại. “Cô đến đây để bênh ông ấy?” “Không. Em đến vì nếu chị dùng quyền một mình rồi mọi người mất việc, cha sẽ nói quyền lựa chọn chỉ là thứ xa xỉ của người không phải trả lương.” “Ít nhất tôi đang bảo vệ mẫu thiết kế của họ.” “Chị đã hỏi họ muốn trả cái giá nào chưa?” Câu hỏi khiến tôi im lặng. Tôi đã giận nhà họ Ninh vì dùng ba mươi hai việc làm ép tôi. Nhưng từ lúc nhận con dấu, tôi cũng nhìn những người trong xưởng như lý do để chứng minh lựa chọn của mình đúng. Tôi chưa hỏi họ. Gia Hân đặt một tập giấy lên bàn. “Đây là danh sách cửa hàng nhỏ sẵn sàng đặt hàng nếu xưởng tách bộ mẫu thành lô ngắn. Không đủ bù hợp đồng Minh Hồ, nhưng đủ để giữ hai mươi bốn người trong ba tháng.” “Cô lấy ở đâu?” “Khách hàng từng làm việc với em. Em nói rõ mẫu thuộc xưởng, không thuộc Ninh thị.” “Tại sao giúp tôi?” “Em không giúp riêng chị.” Cô nhìn chiếc hộp con dấu. “Em đang bảo đảm khi hai chúng ta từ chối một chiếc ghế, người khác không phải ngã xuống thay.” Tôi nhớ lời bà nội trong thư. Dùng quyền để bảo vệ lựa chọn của một người khác. Tôi mở bảng lương, kéo ghế cho Gia Hân rồi lấy thêm giấy trắng. “Được,” tôi nói. “Lần này chúng ta hỏi họ trước.” Cô ngồi xuống. Chúng tôi làm việc đến gần sáng, không phải như hai chị em, cũng chưa phải bạn bè. Chỉ là hai người lần đầu tiên được tự chọn mình sẽ đứng cùng ai.