đồng sửa váy của studio Tiểu Hạ là khoản duy nhất đủ giữ tiệm qua mùa mưa. Nếu sáng mai tôi không giao xong chiếc váy này, họ sẽ chuyển toàn bộ đơn sang trung tâm thương mại mới. Bốn giờ kém mười, mưa quất vào mái kính. Tôi cúi xuống nhặt cuộn chỉ rơi dưới chân bàn. Khi ngẩng lên, cửa tủ đồ phía sau đã hé mở. Tôi nhớ rất rõ mình đã khóa nó. Trong tủ treo một chiếc áo sơ mi trắng nam, cổ áo hơi sờn, cổ tay trái có vệt dầu ăn màu nhạt. Nó không thuộc về bất kỳ khách nào trong sổ nhận đồ. Tôi kiểm tra thẻ giấy, túi áo, đường viền. Không có tên. Chỉ có một hàng chữ nhỏ thêu bên trong gấu áo. Đừng quyết định thay anh. Chữ thêu là nét tay của tôi. Tôi vừa chạm vào đường chỉ thì chuông cửa reo. Người đàn ông đứng ngoài không mang ô. Tóc anh ướt, tay xách một hộp giữ nhiệt bằng thép. Anh cao, gầy hơn kiểu người thường xuất hiện trong tiệm áo cưới, áo khoác đen còn vương mùi gừng và hành nướng. Anh nhìn chiếc áo trong tay tôi, rồi nhìn đồng hồ. “May là em chưa tháo nó.” Tôi đặt áo xuống. “Anh nhận nhầm tiệm rồi.” “Không.” Anh nói rất bình tĩnh. “Anh đến lấy áo.” “Phiếu nhận đồ?” “Em chưa bao giờ viết phiếu cho anh.” Tôi nhìn anh kỹ hơn. Gương mặt ấy không hoàn toàn xa lạ. Có một cảm giác giống như đi ngang căn bếp cũ và ngửi thấy món ăn mình từng thích, nhưng không nhớ ai đã nấu. “Tôi không biết anh.” Câu nói vừa dứt, bàn tay anh đang đặt trên hộp giữ nhiệt khựng lại. Chỉ một nhịp. Rồi anh gật đầu. “Anh biết.” Cách anh chấp nhận khiến tôi khó chịu hơn cả việc bị cãi. Tôi kéo cuốn sổ khách hàng về phía mình. “Tên anh.” “Tạ Hoài Chu.” Ngòi bút của tôi dừng trên giấy. Cái tên trôi qua đầu tôi rất nhanh, để lại một khoảng trống lạnh buốt. Anh mở hộp giữ nhiệt. Bên trong là cháo bí đỏ, hai chiếc bánh hành và một hũ nhỏ đậu muối. “Em chưa ăn tối.” “Tôi không ăn bí đỏ.” “Em ghét bí đỏ thái miếng. Xay nhuyễn thì ăn.” Tôi