học, cũng là người đã hứa giao toàn bộ đơn sửa váy cho tiệm nếu tôi đừng đóng cửa giữa mùa cưới. Cô ấy nhìn chiếc áo trên bàn rồi đứng sững. “Hoài Chu đến rồi à?” Tôi không trả lời ngay. “Cậu biết anh ta?” Tiểu Hạ nhìn tôi như tôi vừa hỏi mặt trời có mọc ở hướng đông không. “Vãn Đường, đừng đùa.” “Tớ không đùa.” Sắc mặt cô ấy đổi hẳn. Tôi đưa tấm ảnh bạc mặt. Tiểu Hạ giật lấy, chạy đến ngăn kéo dưới bàn lấy kính lúp. Cô soi phần giấy, mép ảnh rồi lật mặt sau. “Ảnh này do tớ chụp.” “Cậu nhớ người phụ nữ là ai không?” “Là cậu.” “Nhưng tớ không nhớ.” Tiểu Hạ bỏ kính xuống. “Tám tháng trước, cậu còn bảo nếu Hoài Chu dám cầu hôn bằng bánh bao thì cậu sẽ đổ cả xửng lên đầu anh ấy.” “Tớ chưa từng yêu Tạ Hoài Chu.” “Cậu từng.” Câu ấy làm căn phòng im bặt. Tiểu Hạ mở máy ảnh, lục kho lưu trữ rồi tìm một thư mục cũ. Trong hàng trăm tấm hình, Hoài Chu xuất hiện nhiều hơn bất kỳ người đàn ông nào khác. Anh mang cơm đến tiệm. Anh ngồi thay bóng đèn. Anh ngủ gục bên máy may trong lúc tôi ghim vải. Ở vài tấm, bên cạnh anh có một khoảng sáng nhòe như người bị xóa khỏi ảnh. Thông tin in sau ảnh vẫn ghi đủ ngày giờ. Riêng mục người chụp chú thích thường có những khoảng trống. Tiểu Hạ nói: “Không phải ảnh bị hỏng. File gốc trên thẻ nhớ cũng đổi.” “Không thể.” “Đúng. Nên tớ mới sợ.” Cô phóng lớn một bức chụp dưới mái hiên. Hoài Chu đang giơ chiếc khăn tay màu xanh lên che mưa cho ai đó. Phía bên kia chiếc khăn chỉ còn một khoảng trắng. Ở góc ảnh có đồng hồ điện tử của cửa hàng tiện lợi. Bốn giờ mười bảy phút. Tôi quay nhìn cuối ngõ. Bức tường gạch vẫn ở đó. Tiểu Hạ nắm cổ tay tôi. “Cậu định làm gì?” “Tìm xem lúc bốn giờ mười bảy có gì.” “Cậu đang nói về một cánh cửa không tồn tại.” “Tớ cũng đang nhìn những bức ảnh không thể tồn tại.” Tối hôm đó, tôi đóng cửa tiệm sớm. Tôi không gọi Hoài Chu. Tôi cũng không