nhìn chiếc khăn xám, tạp dề xám và dải ruy băng xám Tiểu Hạ gửi lại trong hộp kính. Ba món đồ nhắc tôi rằng giấu nỗi sợ không làm người khác tự do hơn. Tôi gọi anh. “Hôm nay tôi không muốn hẹn,” tôi nói. “Tiệm phải đóng. Tôi đang rất tệ và không muốn giả vờ vui.” Hoài Chu hỏi: “Em muốn ở một mình hay muốn có người ngồi cách một khoảng?” Tôi nhìn chiếc ghế đối diện. “Ngồi cách một khoảng.” Anh đến, mang hai phần cơm nhưng không mở hộp cho đến khi tôi nói đói. Anh không đề nghị trả tiền thuê, không gọi người tìm mặt bằng, không biến sự có mặt thành một cuộc giải cứu. Anh ngồi tháo từng chiếc móc treo trong lúc tôi gói cuộn vải. Đến nửa đêm, tôi tự nói: “Tôi sẽ mở lại, nhưng nhỏ hơn.” “Ở đâu?” “Chưa biết.” “Em cần anh giúp gì?” “Ngày mai chở giúp máy may. Chỉ máy may.” “Được.” Giữa cuộc hẹn thứ ba và thứ tư, cô dâu có chiếc váy tôi từng sửa quay lại. Tôi tưởng cô đến đòi thêm tiền bồi thường. Thay vào đó, cô đặt chiếc váy lên bàn, chỉ vào đường eo đã tháo rồi may lại trong đêm. “Chỗ này khác đường may cũ,” cô nói. “Tôi biết.” “Hôm cưới mẹ tôi nhận ra ngay.” Tôi chuẩn bị xin lỗi lần nữa, nhưng cô vuốt mép vải rồi tiếp: “Bà nói lần đầu tiên chiếc váy có dấu của cả hai mẹ con. Tôi đến hỏi chị có thể biến phần chỉ thừa thành một túi nhỏ không.” Yêu cầu ấy không cứu hợp đồng studio. Nó cũng không làm khoản nợ mặt bằng biến mất. Nhưng nó buộc tôi nhìn lại niềm tin đã dẫn mình tới tiệm giặt: tôi từng cho rằng một vết sửa chỉ thành công khi không ai nhận ra nó tồn tại. Tôi lấy một tờ phiếu mới, chia thành ba mục. Phần được phép cắt. Phần phải giữ. Người có quyền đổi quyết định. Cô dâu đọc rất lâu rồi viết tên mình vào mục cuối. “Không cần hỏi mẹ tôi à?” cô hỏi. “Đây là váy của cô. Nếu cô muốn hỏi, đó là lựa chọn của cô, không phải điều kiện tôi tự thêm.” Cô mỉm cười và ký. Tôi làm chiếc túi trong