tôi có ba chiếc bàn, một máy may cũ và một bức tường dành cho những đường sửa khách muốn giữ lại. Tiểu Hạ treo ba tập ảnh trong tủ kính, không phải để trưng bày chuyện riêng mà làm hồ sơ không được phép chỉnh sửa. Khăn tay, tạp dề và dải ruy băng vẫn xám. Chúng không lấy lại màu. Chiếc áo sơ mi trắng treo ở góc trong cùng. Hoài Chu đã định mang nó đi. Ba tháng sau, anh đem áo đến và hỏi: “Em có muốn giữ nó ở tiệm không?” “Anh muốn giữ hay muốn tôi giữ?” “Anh muốn nó là món đồ chung. Nhưng nếu em không muốn, anh mang về.” “Nếu treo ở đây, khách có được biết câu chuyện không?” “Không, trừ khi cả hai cùng đồng ý.” “Nếu sau này một người muốn lấy xuống?” “Người đó nói thẳng. Chúng ta không biến chiếc áo thành phép thử xem ai còn yêu ai.” Tôi lấy một phiếu nhận đồ mới. “Phần được phép thay?” tôi hỏi. “Không có.” “Phần phải giữ?” “Vết sờn, hàng chữ dưới gấu và màu trắng hiện tại.” “Ai có quyền đổi quyết định?” “Cả hai. Không phải một trong hai.” Tôi viết câu trả lời rồi đẩy phiếu sang. Hoài Chu đọc kỹ trước khi ký. “Còn một mục,” anh nói. “Nếu em muốn dùng áo để tìm lại ký ức thì sao?” “Tôi sẽ nói với anh trước khi làm bất cứ điều gì. Nhưng tôi không giao nó cho tiệm giặt.” “Vì đã hứa với anh?” “Không. Vì tôi chọn không dùng ký ức của chúng ta làm tiền trả cho một kết quả khác.” Anh ký tên. Tôi ký bên cạnh. Lần đầu tiên, một vật chứng thuộc về hai người bằng sự đồng ý hiện tại, không phải vì quá khứ đã tự gán nó cho chúng tôi. Sáng kỷ niệm ngày mở tiệm, tôi đến lúc bốn giờ. Hoài Chu mang cháo bí đỏ và bánh hành từ nhà ăn sang. Chúng tôi đã sống ở hai căn hộ khác nhau trong cùng khu phố, chưa vội ghép chìa khóa hay dùng ký ức thiếu hụt để chạy nhanh hơn. Bốn giờ mười bảy, đèn đường chớp ba lần. Cuối ngõ, bức tường gạch rung nhẹ. Trong một nhịp, tôi thấy ánh biển xanh mờ sau màn mưa. Hoài Chu cũng