hiện user research với đội của mình.” “Không.” Ông Hứa chỉ tôi. “Cô ấy có mạng lưới người dùng thật.” Tôi nói: “Tôi không cung cấp danh sách khách hàng.” “Không ai yêu cầu cô giao danh sách.” “Anh ấy sẽ yêu cầu.” Cảnh Thâm nhìn tôi. “Tôi không cần tên. Tôi cần pattern.” “Pattern của anh sáng nay làm một người lỡ hạn.” “Dịch vụ của cô cũng không đưa bà ấy vào đúng hạn.” “Ít nhất tôi có mặt.” “Có mặt không đồng nghĩa giải quyết được.” Ông Hứa gõ bút xuống bàn. “Mười ngày. Nếu hai người không hợp tác, tôi sẽ kiến nghị cấm toàn bộ dịch vụ giữ chỗ trong khuôn viên và dừng thử nghiệm lịch số. Cả hai cùng mất.” Ra khỏi phòng, Cảnh Thâm đi bên trái hành lang, tôi đi bên phải. Đến thang máy, anh bấm nút rồi hỏi: “Cô có thể cho tôi gặp bà Khương không?” “Anh muốn hỏi gì?” “Điều bà ấy cần.” “Sáng nay bà đã nói.” “Tôi đã nghe trong lúc xử lý sự cố. Tôi muốn nghe lại khi bà có quyền dừng cuộc nói chuyện.” Tôi nhìn anh kỹ hơn. “Anh học câu quyền dừng ở đâu?” “Trong quy trình nghiên cứu.” “Quy trình có nói phải trả tiền thời gian của người tham gia không?” “Có.” “Có nói dữ liệu thuộc về ai không?” “Chúng tôi lưu dữ liệu ẩn danh.” “Đó không phải câu trả lời.” Cửa thang máy mở. Tôi không bước vào. “Nếu muốn làm cùng tôi, chúng ta lập điều khoản trước.” Anh giữ cửa. “Cô nói đi.” “Không lấy số điện thoại khách. Không ghi âm nếu chưa hỏi từng lần. Không dùng câu chuyện cá nhân trong slide nếu người kể chưa duyệt. Người tham gia được rút lời sau phỏng vấn. Và đừng gọi họ là trường hợp ngoại lệ ngay trước mặt họ.” “Cô cũng có điều khoản.” “Anh nói.” “Không hướng câu trả lời để chứng minh hệ thống sai. Không hứa kết quả chúng ta chưa có quyền quyết định. Dữ liệu phí dịch vụ phải được công khai theo nhóm, kể cả phần bất lợi cho cô.” Tôi khoanh tay. “Anh nghĩ tôi giấu phí?” “Tôi nghĩ cả hai chúng ta đều có thứ không muốn nhìn.” “Còn gì nữa?” “Nếu người dùng muốn nói trực tiếp với tôi, cô không trả lời thay.”