Tôi nhớ bà Khương đã yêu cầu điều ấy. “Được.” “Và nếu cô muốn dừng một cuộc phỏng vấn?” “Tôi nói dừng.” “Tôi cũng vậy.” Tôi lấy một thẻ số màu cam, viết hai chữ hợp tác lên mặt sau rồi đưa anh. “Ngày mai, bốn giờ rưỡi sáng. Chợ đầu mối phía nam.” Anh nhìn giờ. “Bốn giờ rưỡi?” “Anh muốn nghiên cứu người không thể đặt lịch lúc mười giờ sáng. Họ bắt đầu ngày làm việc lúc anh còn ngủ.” “Tôi không ngủ muộn.” “Ngày mai sẽ biết.” Cảnh Thâm cất thẻ vào cuốn sổ lưới xanh. “Cô Lâm.” “Gì?” “Bà Khương có đồng ý gặp lại không?” “Tôi sẽ hỏi bà. Không phải hỏi thay bà.” Lần đầu tiên từ sáng, anh gật đầu mà không ghi gì xuống sổ. Bốn giờ hai mươi tám, Cảnh Thâm đã đứng trước cổng chợ. Tôi đến muộn hai phút vì cố ý đi bộ chậm ở đoạn cuối. Anh mặc sơ mi trắng như hôm qua, nhưng thay giày da bằng giày thể thao và mang theo một bình giữ nhiệt. “Anh tưởng chúng ta đi dã ngoại à?” tôi hỏi. “Cà phê. Hai cốc.” “Tôi không uống cà phê trước khi ăn.” “Vậy cô uống gì?” “Anh đang nghiên cứu người dùng hay mua chuộc cộng tác viên?” “Đang sửa một giả định.” Anh mở sổ lưới xanh. Dòng đầu tiên ghi: Người làm ca sớm cần caffeine. Anh gạch đi. Tôi bật cười. “Anh ghi thật à?” “Nếu không ghi, lần sau tôi sẽ lại nghĩ mình biết.” “Viết thêm: không ai cần nhìn thấy cuốn sổ lúc bốn giờ rưỡi sáng.” Anh viết đúng câu ấy rồi đóng sổ. Chúng tôi vào chợ. Đèn huỳnh quang trắng lạnh treo trên các sạp rau. Xe đẩy va nhau. Người bán gọi giá, người mua mặc áo mưa mỏng đi nhanh trên nền ướt. Khách đầu tiên là chị Lưu, công nhân sơ chế thực phẩm, tan ca lúc chín giờ và ngủ từ mười một giờ trưa đến sáu giờ tối. Cảnh Thâm hỏi: “Chị thường đặt lịch vào thời điểm nào?” Chị Lưu buộc lại dây tạp dề. “Tôi không đặt.” “Vì chị không có điện thoại thông minh?” “Có.” “Vì ứng dụng khó dùng?” “Không biết. Chưa mở.” “Vậy tại sao?” “Lịch mở mười giờ sáng. Mười giờ tôi đang đứng cạnh máy cắt. Quản đốc cấm