thẻ số. “Quy tắc giữ chỗ?” “Không chen. Không giữ quá một người trên một ghế. Khách phải tới trước giờ ước tính ba mươi phút. Nếu quầy thay chính sách, báo thật. Không nói chắc chắn sẽ xong.” “Và nếu ai hỏi tôi làm nghề này bao lâu?” “Nói hôm nay là ngày đầu.” “Không ảnh hưởng uy tín của cô à?” “Uy tín của tôi không cần anh giả giỏi.” Tại quầy cư trú, Cảnh Thâm làm sai trong mười phút đầu. Anh ngồi quá thẳng, đặt thẻ cam lên đầu gối như đang giữ tang vật và liên tục nhìn màn hình gọi số. Người phía sau hỏi anh chờ ai. Anh nói đầy đủ tên, mục đích hồ sơ và giờ đến dự kiến của chú Bành. Tôi kéo anh ra ngoài. “Anh vừa tiết lộ thông tin khách.” “Ông ấy chỉ hỏi.” “Anh có quyền trả lời tên mình, không có quyền kể việc của khách.” “Trong form của cô có mục bảo mật không?” “Có.” “Cô đã giải thích cho cộng tác viên thế nào?” “Bằng ví dụ.” “Ví dụ nào?” “Ví dụ anh vừa tạo.” Anh nhìn tôi vài giây rồi viết vào sổ. “Đừng ghi tên chú Bành.” “Tôi ghi lỗi của tôi.” “Cho tôi xem.” Anh đưa sổ. Tôi đọc: Tiết lộ mục đích hồ sơ vì tưởng câu hỏi xã giao vô hại. Quy tắc cần nói rõ hơn trong onboarding. Tôi trả lại. “Được.” Mười phút sau, một người phụ nữ mang thai xin ngồi ghế anh đang giữ. Cảnh Thâm đứng dậy ngay, nhưng rồi lúng túng vì rời ghế có thể mất vị trí. Anh gọi tôi. “Tôi nên làm gì?” “Anh muốn làm gì?” “Nhường ghế.” “Vậy nhường. Vị trí trong hàng không phụ thuộc cái ghế.” “Người phía sau có thể nói tôi bỏ hàng.” “Anh thông báo với họ trước.” Anh quay lại, nói rõ mình vẫn chờ số và nhường ghế cho người cần. Không ai phản đối. Một ông chú còn dịch túi sang bên để chừa chỗ đứng. Khi chú Bành tới, Cảnh Thâm không giao thẻ ngay. Anh hỏi: “Chú có muốn tôi đứng cạnh lúc quầy kiểm giấy không?” “Cậu biết thủ tục à?” “Không bằng chú. Cháu chỉ biết hệ thống.” “Vậy đứng xa thôi. Có lỗi máy thì tôi gọi.” Anh đứng xa. Ở đầu bên kia tòa nhà, tôi