tiếp hay dừng để chúng tôi sửa trước?” “Thử tiếp. Tôi muốn cậu nghe nó vô dụng thế nào.” Mười lăm phút sau, trình đọc màn hình lặp chữ ngày hai mươi bốn lần nhưng không cho biết ngày nào còn slot. Cảnh Thâm hỏi: “Nếu chúng tôi thêm nhãn đầy đủ và danh sách ngày trống, có giải quyết được không?” Anh Hải đáp: “Cậu lại hỏi tôi duyệt thiết kế cho cậu.” “Đúng.” “Đừng đưa giải pháp rồi hỏi tôi có thích không. Hỏi tôi cần hoàn thành việc gì.” Cảnh Thâm gạch cả trang sổ. “Anh cần hoàn thành việc gì?” “Tôi cần biết tuần sau có buổi nào sau năm giờ. Tôi không cần nghe hai mươi ngày đã hết.” “Vậy thứ tự thông tin phải bắt đầu từ điều kiện của anh.” “Đúng.” “Anh có muốn thử một bản khác khi chúng tôi sửa xong?” “Có trả công không?” “Có.” “Vậy gửi qua cô Lâm hay gửi thẳng?” Tôi nói: “Anh chọn.” Anh Hải đưa số liên hệ công việc cho Cảnh Thâm. “Gửi thẳng. Cô Lâm không phải thư ký của tôi.” Tôi cười. Cảnh Thâm cũng cười, nhưng ghi đúng câu ấy vào sổ. Sau một tuần, prototype có nhãn truy cập, bộ lọc giờ, kênh gọi thử nghiệm và biên nhận cho người đến trực tiếp. Chúng tôi chưa biết nó có sống được qua phê duyệt hay không, nhưng ít nhất nó bắt đầu thừa nhận người dùng không giống nhau. Tối thứ tám, Tiêu Mạn gọi tôi đến quán trà dưới cầu vượt. Cô đặt ba thẻ số màu cam lên bàn. Chúng giống thẻ của tôi, chỉ khác mép cắt lệch. “Có người bán suất dưới tên chúng ta.” “Ai?” “Tào Kỳ.” Tôi biết hắn. Hai năm trước, hắn từng giữ ca cuối tuần, sau đó nghỉ vì liên tục thu thêm phí mà không báo. Tôi đã xóa hắn khỏi nhóm nhưng không công khai lý do, vì sợ khách nghĩ mạng lưới không đáng tin. “Bao nhiêu người?” “Ít nhất mười chín.” “Hắn bán cái gì?” “Cam kết vào quầy trong ba mươi phút. Có mã hẹn giả.” Tôi cầm thẻ. Mặt sau in số điện thoại tổng đài của tôi. Tiêu Mạn nói: “Có hai khách bị giữ giấy tờ gốc.” “Tại sao giờ mới biết?” “Vì họ tưởng Tào Kỳ vẫn làm cho cậu.” Tôi gọi hắn. Số