lại. Cảnh Thâm không trả lời thay tôi bằng một lời hứa rộng. “Cô muốn tôi giúp phần nào?” Tôi nhìn bảng dữ liệu. “Thiết kế trang xác minh. Không đụng vào quyết định ai được ở lại mạng lưới.” “Được.” “Và khi tôi gọi từng khách, anh không ngồi cạnh.” “Được.” “Tôi có thể đổi ý về phần dữ liệu công khai trước khi báo cáo khóa không?” “Có.” Tôi kéo bản tổng hợp về phía mình. “Vậy ghi tất cả vào bản nháp.” Anh mở sổ lưới xanh, nhưng lần này không ghi giả định. Anh viết một tiêu đề mới: Những điều chỉ người trong hàng chờ mới nhìn thấy. Tôi mất gần nửa khách hàng trong một buổi sáng. Trang xác minh cộng tác viên hoạt động lúc sáu giờ. Bảy giờ, tôi công bố bảng phí, danh sách người đang hoạt động và thông báo hoàn tiền cho mọi giao dịch không có biên nhận. Tám giờ, nhóm chat hơn bốn trăm người bắt đầu chia đôi. Một bên hỏi vì sao tôi để Tào Kỳ dùng tên mạng lưới lâu như vậy. Bên kia nói tôi tự phá công việc chỉ vì vài người tham lam. Có người gửi ảnh thẻ cam thật để xác minh. Có người xé thẻ, quay video rồi đăng lên mạng. Tiêu Mạn ngồi đối diện tôi, điện thoại rung không ngừng. “Cậu định trả bao nhiêu?” “Tất cả khoản chênh có bằng chứng. Toàn bộ phí nếu không có cộng tác viên thật.” “Quỹ dự phòng không đủ.” “Tớ bù phần còn lại.” “Bằng tiền thuê nhà?” “Tớ có thể trả chậm chủ nhà.” “Không.” Tôi ngẩng lên. Tiêu Mạn đặt sổ ca bìa đen xuống bàn. “Cậu lại làm điều cũ. Khi hệ thống có lỗ hổng, cậu lấy đời mình nhét vào rồi gọi là trách nhiệm.” “Khách mất tiền dưới tên tớ.” “Đúng. Mạng lưới có quỹ, có cộng tác viên và có phần phí quản lý. Chúng ta cùng chịu. Không phải một mình cậu đóng vai người tốt đến phá sản.” “Cậu muốn chia thế nào?” “Công khai số thiếu. Người đang hoạt động góp theo tỷ lệ giao dịch. Cậu góp phần quản lý. Phần do lỗi xác nhận mã, trung tâm phải tham gia.” “Ông Hứa sẽ không đồng ý.” “Vậy yêu cầu bằng văn bản.” Tôi nhìn cô. “Cậu học câu đó