với anh mà không kèm châm chọc. Cuộc họp kết thúc sau hai giờ. Bà Khương mang tờ điều khoản về đọc thêm. Anh Hải yêu cầu bản định dạng truy cập. Tiêu Mạn giữ bảng ngân sách. Chỉ còn tôi và Cảnh Thâm trong phòng. Anh hỏi: “Cô có muốn nói về hành lang hôm đó không?” “Tôi muốn. Nhưng không phải hôm nay.” “Được.” “Anh có muốn không?” “Có.” “Vậy để sau khi nộp báo cáo.” “Được.” Tôi cầm túi thẻ lên. Anh mở cửa cho tôi nhưng không bước theo. Trước khi đi, tôi nói: “Câu anh nói về việc tôi chỉ có giá trị khi giữ chỗ cho người khác.” Anh đứng yên. “Tôi vẫn giận.” “Tôi biết.” “Nhưng không phải hoàn toàn sai.” “Tôi không có quyền dùng điều đúng để làm cô đau.” Tôi nhìn anh. “Sau báo cáo, chúng ta nói tiếp.” “Sau báo cáo.” Lần này, khoảng cách giữa chúng tôi không phải một cánh cửa đóng. Nó là điều khoản cả hai cùng đồng ý giữ. Ba ngày trước lễ nghiệm thu, Hứa Đình Phong gửi cho tôi một hợp đồng ngắn chỉ có hai trang. Nội dung rất đơn giản: mạng lưới của tôi cung cấp mười tám người dùng trải nghiệm trong buổi trình diễn, tới đúng giờ, đi qua đúng ba kênh và hoàn thành bảng đánh giá sau khi được hướng dẫn. Phí cao gấp bốn lần một ca giữ chỗ bình thường. Tôi đọc đến dòng người tham gia không được tiết lộ kịch bản vận hành rồi đặt hợp đồng xuống. Tiêu Mạn huýt sáo. “Mười tám người, ba tiếng. Số tiền này đủ bù phần quỹ còn thiếu.” “Cậu muốn nhận à?” “Không. Tớ đang nói lý do họ nghĩ chúng ta sẽ nhận.” “Ông Hứa gọi đây là người dùng mẫu.” “Người dùng thật có được chọn không?” “Không. Danh sách do chúng ta tuyển.” “Có được báo lỗi ngoài kịch bản không?” “Không.” “Vậy là diễn viên.” Tôi gọi Cảnh Thâm. Anh không biết hợp đồng. “Gửi tôi xem,” anh nói. “Tôi không gửi nếu anh định xử lý sau lưng tôi.” “Cô muốn làm gì?” “Tôi muốn hỏi những người trong hội đồng cộng đồng xem họ có chấp nhận một buổi demo có kịch bản không.” “Ông Hứa sẽ nói đây là tài liệu nội bộ.” “Vậy anh hỏi quyền công bố