Ngày chúng tôi xóa tên nhau khỏi giấy đăng ký kết hôn, trời Hàng Châu mưa rất nhỏ. Tôi ký trước. Cán bộ ở trung tâm đăng ký nhìn sang Lục Cảnh Hành. Anh đọc lại tờ xác nhận một lần, ký tên rồi đặt hai chiếc chìa khóa lên mặt bàn. Một chiếc mở căn nhà ven kênh nơi chúng tôi đã sống ba năm. Chiếc còn lại mở phòng làm việc riêng của anh trong nhà. “Chìa nhà thuộc về em,” anh nói. “Chìa phòng làm việc anh trả lại vì hôm nay anh chuyển hết đồ.” Tôi cất chiếc thứ nhất vào túi, đẩy chiếc thứ hai về phía anh. “Anh giữ đi. Phòng đó cũng là một phần căn nhà.” “Sau hôm nay, anh không có quyền tự vào nữa.” Câu nói rất đúng. Đúng đến mức khiến lồng ngực tôi đau như bị một cạnh giấy cứa vào. Cán bộ đóng dấu lên hồ sơ. Ba năm hôn nhân của chúng tôi kết thúc bằng một tiếng cộp gọn gàng. Cảnh Hành cầm chìa khóa nhưng không đứng dậy ngay. “Dư An,” anh nói, “sau khi mọi nghĩa vụ đã hết, anh có thể theo đuổi em không?” Tôi nhìn anh. Trong suốt ba năm, người đàn ông này chưa từng hỏi tôi một câu nào có thể khiến tôi thấy mình bị giữ lại. Đến khi thật sự tự do, anh lại hỏi điều đáng lẽ phải hỏi từ lâu. Mười hai ngày trước, tôi vẫn tin rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi chỉ là một thỏa thuận được thực hiện đặc biệt tốt. Ba năm trước, căn nhà của bà ngoại tôi ở bên kênh Tiểu Hà đứng trước nguy cơ bị thu hồi quyền thuê dài hạn. Đó là một căn nhà gỗ hai tầng, mái ngói xám, hành lang hẹp và một cây mộc hương mọc nghiêng qua tường sân. Bà ngoại sống ở đó hơn bốn mươi năm. Sau khi bà mất, hợp đồng cũ quy định người tiếp nhận phải là một hộ gia đình cư trú ổn định, đồng thời cam kết tự chi trả phần sửa chữa bảo tồn. Tôi khi ấy hai mươi bảy tuổi, là kiến trúc sư mới chuyển từ Tô Châu về Hàng Châu. Tôi có thu nhập, có phương án sửa nhà và có một chồng bản vẽ đủ dày để làm cán bộ phường đau đầu. Thứ tôi không có là điều kiện “hộ gia đình cư trú ổn định” theo cách đơn vị quản lý nhà cũ đang áp dụng. Luật sư của tôi nói có thể khiếu nại. Quá trình sẽ kéo dài ít nhất một năm. Trong thời gian ấy, căn nhà có thể được giao cho đơn vị khai thác du lịch. Cùng tuần đó, tôi gặp lại Lục Cảnh Hành tại một phiên họp quỹ bảo tồn tư nhân. Chúng tôi quen nhau từ đại học. Tôi học kiến trúc, anh học quản lý công. Hai người từng cùng thức trắng để cứu một mô hình nhà gỗ khỏi trận mưa do mái xưởng bị dột, rồi bảy năm chỉ giữ liên lạc bằng những lời chúc năm mới rất đúng giờ. Quỹ của gia đình anh đang nắm một số dự án phục hồi nhà cổ. Điều lệ cũ quy định quyền biểu quyết tạm thời chỉ chuyển cho thành viên thế hệ sau đã lập gia đình và có nơi cư trú độc lập. Một quy định lỗi thời, nhưng nếu Cảnh Hành không nhận quyền trong kỳ họp đó, chú anh là Lục Chính Phong sẽ đủ phiếu bán hai khu nhà cho đơn vị thương mại. Chúng tôi ngồi trong quán trà cạnh hồ, đặt hai vấn đề lên bàn như hai bản vẽ không liên quan. “Cậu cần một hộ gia đình,” Cảnh Hành nói. “Cậu cần tình trạng hôn nhân hợp lệ.” “Chúng ta đều không cần một cuộc hôn nhân theo nghĩa thông thường.” “Câu đó không làm đề nghị tiếp theo bớt kỳ quặc đâu.” Anh nhìn tôi. “Nếu cậu không muốn, cuộc trò chuyện dừng ở đây.” Tôi không trả lời ngay. Tôi hỏi ai sẽ chịu rủi ro, ai được lợi, và cách nào để một trong hai rời đi mà không bị người kia giữ bằng tài sản hoặc danh dự. Cảnh Hành không nói “cứ tin tôi”. Anh lấy sổ, ghi từng câu hỏi. Chúng tôi thuê hai luật sư riêng. Hai người ngồi ở hai phía bàn, sửa thỏa thuận suốt ba tuần. Tài chính độc lập. Không chuyển quyền sở hữu căn nhà. Không nhận cổ phần hoặc tài sản của gia đình Lục. Chi phí sinh hoạt chia theo tỷ lệ sử dụng. Mỗi người có phòng riêng. Mọi tiếp xúc thân mật cần sự đồng ý như bất kỳ mối quan hệ nào. Không ai có nghĩa vụ xuất hiện như vợ chồng trước truyền thông ngoài những thủ tục đã liệt kê. Khi cả quyền thuê nhà và quyền biểu quyết hết điều kiện phụ thuộc, một trong hai có thể yêu cầu chấm dứt hôn nhân mà không cần giải thích. Luật sư của tôi thêm một câu: “Không hành vi chăm sóc nào tạo thành khoản nợ tình cảm.” Cảnh Hành đọc rồi ký tắt bên cạnh. Chúng tôi đăng ký kết hôn vào một sáng thứ tư. Không nhẫn, không lễ cưới, không ảnh đăng mạng. Sau đó mỗi người trở lại văn phòng làm việc. Tối đầu tiên ở căn nhà ven kênh, tôi nghe tiếng anh kéo vali vào phòng phía đông. “Tường phòng này mỏng,” tôi nói qua hành lang. “Nếu anh họp sau mười một giờ, hãy dùng tai nghe.” “Còn nếu em sửa mô hình lúc hai giờ sáng?” “Tôi dùng dao cắt rất nhẹ.” “Đêm qua hàng xóm tầng dưới của em ở chung cư cũ đã nhắn cho tôi hỏi em có đang phá sàn không.” Tôi mở cửa. “Tại sao hàng xóm cũ có số của anh?” “Em ghi tôi là liên hệ khẩn cấp khi thuê nhà.” “Từ bao giờ?” “Năm cuối đại học.” Tôi đã quên. Anh thì không. Cuộc sống chung bắt đầu bằng những chi tiết nhỏ như thế. Cảnh Hành làm việc sớm, tôi làm khuya. Anh để bữa sáng trong nồi hấp nhưng dán nhãn chi phí vào bảng chung. Tôi thay đèn hành lang và gửi hóa đơn một nửa. Khi mái nhà dột, anh gọi thợ của quỹ. Tôi từ chối dùng miễn phí, yêu cầu báo giá thị trường và biên bản xung đột lợi ích. Anh không giận. Anh chuyển hồ sơ cho một đơn vị khác, rồi tự đứng dưới mái hiên cầm xô hứng nước trong lúc chờ thợ. “Anh không cần làm vậy,” tôi nói. “Xô này thuộc phần sinh hoạt chung.” “Điều khoản nào?” “Điều khoản không để nước chảy vào tủ sách của em.” Đó là lần đầu tôi cười trong căn nhà ấy. Sáu tháng sau, tôi nhận dự án khảo sát khu nhà cổ ven kênh. Hồ sơ được chấm ẩn danh. Đề xuất của tôi thắng vì giữ được lối đi cộng đồng thay vì biến cả khu thành dãy cửa hàng lưu niệm. Cảnh Hành không tham gia hội đồng chấm. Khi kết quả công bố, anh chỉ gửi một tin: “Chúc mừng kiến trúc sư Tống.” Tối đó, trên bàn ăn có một bát mì trường thọ. “Không phải sinh nhật tôi.” “Anh biết. Mừng em thắng dự án.” “Chi phí?” “Bột và trứng nằm trong ngân sách thực phẩm chung. Công làm bếp là tự nguyện, không tạo nợ tình cảm.” Anh trích đúng câu luật sư của tôi đã viết. Tôi ăn hết bát mì và không hỏi vì sao anh nhớ từng chữ. Ba năm trôi qua. Căn nhà được sửa xong. Quỹ bảo tồn tạm thời ngăn được việc bán hai khu nhà. Chúng tôi trở thành hai người sống cạnh nhau rất phù hợp: biết lịch của nhau, biết ai cần yên tĩnh lúc nào, biết người kia uống trà gì khi mất ngủ. Không ai bước qua ranh giới. Tôi nghĩ đó là bằng chứng cuộc hôn nhân vận hành thành công. Cho đến sáng ngày thứ nhất của mười hai ngày cuối, hai thông báo đến cùng lúc. Đơn vị quản lý nhà xác nhận quyền thuê của tôi đã chuyển sang hợp đồng cá nhân dài hạn nhờ ba năm cư trú và hoàn thành bảo tồn. Tình trạng hôn nhân không còn là điều kiện. Hội đồng quỹ thông báo điều lệ mới có hiệu lực. Quyền biểu quyết không còn phụ thuộc việc thành viên đã lập gia đình. Tôi in hai thông báo, đặt lên bàn ăn. “Điều kiện đã hết,” tôi nói. Cảnh Hành đọc rất lâu rồi gật đầu. “Anh sẽ bảo luật sư chuẩn bị hồ sơ.” Chỉ vậy. Không hỏi tôi có muốn tiếp tục không. Không nhắc ba năm đã qua. Không có một khoảnh khắc do dự đủ rõ để tôi có thể vin vào. Tôi nghe chính mình nói: “Mười hai ngày nữa có lịch trống ở trung tâm đăng ký.” “Anh sẽ sắp xếp.” Anh đứng dậy, mang cốc vào bếp. Tôi nhìn lưng anh và hiểu sự im lặng theo cách dễ chịu nhất cho lòng tự trọng của mình. Anh chưa từng muốn tôi ở lại. Cuộc hôn nhân chỉ là một bản hợp đồng được thực hiện đặc biệt tốt. Chiều hôm đó, văn phòng thành phố gọi tôi đến. Hứa Mạn Thanh, trưởng ban dự án nhà cổ, đặt một tập hồ sơ xuống trước mặt tôi. Trên trang đầu là phụ lục đấu thầu ba năm trước. Bên cạnh tên tôi có một dòng được tô đỏ: “Vợ của người quản lý Quỹ Bảo tồn Lục thị.” “Bản này vừa được gửi cho báo chí,” cô nói. “Có người tố cô dùng quan hệ hôn nhân để giành dự án.” “Tôi được chấm ẩn danh. Lục Cảnh Hành không ở hội đồng.” “Tôi biết. Nhưng hồ sơ công bố không kèm bảng loại xung đột lợi ích.” “Bảng đó nằm trong kho dự án.” “Bản đang lan truyền không có.” Tôi nhìn dòng chữ đỏ. Ba năm qua tôi đã cố để mọi thành quả đứng ngoài cuộc hôn nhân. Chỉ cần một phụ lục bị tách khỏi quy trình, tất cả lại có thể được kể thành câu chuyện ngược lại. Mạn Thanh hỏi: “Cô muốn tiếp tục giữ vai trò trưởng nhóm trong lúc kiểm tra không?” Tôi đóng tập hồ sơ. “Không. Tôi tự rút tạm thời. Nhưng xin niêm phong toàn bộ bản chấm ẩn danh, danh sách hội đồng và hồ sơ xung đột lợi ích trước khi bất kỳ ai chỉnh sửa.” “Cô hiểu việc rút sẽ bị coi như thừa nhận?” “Còn ở lại sẽ bị coi là dùng vị trí để tác động điều tra.” Tôi ký yêu cầu niêm phong. Khi bước ra khỏi phòng họp, điện thoại có tin nhắn của Cảnh Hành. “Anh đã thấy bài đăng. Anh có thể dùng quyền biểu quyết yêu cầu quỹ công bố hồ sơ ngay.” Tôi trả lời: “Đừng dùng quyền đó.” Ba phút sau, anh gọi. “Vì sao?” “Vì người ta đang cáo buộc tôi hưởng lợi từ quyền của anh.” “Hồ sơ sẽ chứng minh em không hưởng lợi.” “Nếu anh dùng quyền để đưa hồ sơ ra, họ sẽ nói kết quả cũng do anh quyết.” Đầu dây bên kia im lặng. Tôi nói tiếp: “Hãy để ban dự án và kiểm toán viên độc lập làm việc.” “Được.” Anh đồng ý quá nhanh. Một phần trong tôi biết đó là tôn trọng. Phần còn lại chỉ nghe thấy một người luôn sẵn sàng buông tay. Tối ấy, chúng tôi ăn đối diện nhau dưới chiếc đèn bà ngoại để lại. Giữa bàn là hồ sơ ly hôn chưa điền và bài báo đang biến cuộc hôn nhân của chúng tôi thành bằng chứng gian lận. Cảnh Hành nói: “Anh sẽ chuyển khỏi nhà trước ngày đăng ký.” Tôi gật đầu. “Theo thỏa thuận.” Không ai hỏi người kia có muốn một câu trả lời khác hay không.