Đồng hồ đếm ngược trên cánh gà còn chín mươi giây. Tôi đứng trước chiếc micrô không dây, trong tay là danh sách một trăm tám mươi bảy cái tên. Ngoài tấm rèm nhung màu xanh sẫm, tiếng nhạc mở màn đã vang lên. Hơn hai nghìn người ngồi kín hội trường. Máy quay của đơn vị phát sóng đang lia qua hàng ghế đại biểu. Đường Khả Nhi đưa tay về phía tôi. “Đưa danh sách cho tôi. Cậu chỉ cần đọc đúng bản đã duyệt.” Tôi nhìn dòng đầu tiên. Không có tên của những người học chậm một năm. Không có tên của nhóm chuyển ngành. Không có tên của sinh viên vừa hoàn thành chương trình sau thời gian bảo lưu. Trong đó cũng không có tên tôi. “Tôi sẽ không đọc bản này.” Khả Nhi sững lại. Phía sau cô ấy, người phụ trách phát sóng giơ năm ngón tay, ra hiệu còn một phút. “Cậu có biết nếu trễ tín hiệu thì chuyện gì xảy ra không?” “Tôi biết.” Tôi đặt xấp giấy xuống bàn. “Nhưng nếu đọc nó, tôi cũng biết chuyện gì xảy ra.” Một bàn tay lấy chiếc micrô khỏi giá đỡ cạnh tôi. Lục Minh Triết bước tới bảng điều khiển. Anh không nhìn Khả Nhi, cũng không nhìn những người đang gọi tên mình qua bộ đàm. Anh chỉ đưa tay tắt chiếc đồng hồ đếm ngược đã điều khiển chúng tôi suốt sáu tuần. Màn hình đỏ vụt tối. Minh Triết đặt chiếc micrô vào tay tôi. “Vậy đừng đọc thay họ.” Ngoài rèm, người dẫn chương trình vừa nói xong câu cuối cùng của phần chào mừng. Minh Triết kéo sợi dây giữ rèm sân khấu, giọng bình tĩnh đến mức tôi nghe rõ từng chữ giữa tiếng hỗn loạn. “Để họ tự nói tên mình.” Sáu tuần trước, tôi vẫn nghĩ Lục Minh Triết là kiểu người thà xóa một con người khỏi danh sách còn hơn để chương trình chậm một phút. Sáng hôm ấy, tôi đến hội trường số hai để nhận thẻ hậu trường cho lễ tốt nghiệp. Nơi này vốn dùng cho các buổi biểu diễn của trường. Hàng ghế đỏ xếp thành hình quạt, trên trần là những thanh đèn sân khấu đen sì, còn dưới sàn, sinh viên ban tổ chức đang kéo dây điện và dán băng màu đánh dấu lối đi. Tôi tìm thấy thẻ của mình trong chiếc hộp nhựa đặt cạnh cửa. TỐNG VÃN NGHI. KHÓA HAI KHÔNG HAI MƯƠI HAI. Tôi nhìn tấm thẻ ba giây rồi quay sang cô bạn đang phát dây đeo. “Có thể đổi giúp mình năm tốt nghiệp không?” Cô ấy kiểm tra bảng trên máy tính. “Hệ thống ghi cậu thuộc khóa hai không hai mươi hai.” “Tôi nhập học năm đó. Nhưng năm nay tôi mới tốt nghiệp.” Cô bạn hơi lúng túng. “Bọn mình in theo dữ liệu phòng đào tạo gửi xuống.” Tôi không trách cô ấy. Trong bốn năm đại học, tôi đã quen với việc hệ thống nhớ ngày mình vào trường rõ hơn ngày mình có thể rời khỏi đây. Tôi bảo lưu một năm để về Thiệu Hưng chăm mẹ sau ca phẫu thuật. Khi quay lại, bạn cùng lớp cũ đã làm khóa luận, còn tôi phải học bù hai môn bắt buộc chỉ mở vào học kỳ xuân. Trên nhóm lớp, tôi vẫn thuộc khóa cũ. Trong ký túc xá, tôi ở cùng sinh viên khóa sau. Trên thẻ thư viện, ngày hết hạn từng đến trước ngày bảo vệ luận văn của tôi sáu tháng. Mỗi nơi đều có một cách khác nhau để nói rằng tôi đang đứng chậm hơn người khác một bước. “Cứ để vậy cũng được.” Tôi đeo thẻ lên cổ. “Ít nhất tên đúng.” Một giọng nam vang lên phía sau. “Thẻ sai thông tin thì không được dùng.” Tôi quay lại. Người vừa nói mặc áo sơ mi trắng xắn tay, trên cổ tay trái đeo đồng hồ mặt vuông. Anh cầm một tập sơ đồ chỗ ngồi, mép giấy thẳng đến mức trông như vừa được cắt. Thẻ trước ngực ghi LỤC MINH TRIẾT, TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC. Anh rút thẻ của tôi khỏi dây đeo, nhìn năm tốt nghiệp rồi đặt nó sang chiếc hộp có nhãn IN LẠI. “Từ chiều nay dùng thẻ tạm. Thẻ chính sẽ có trước buổi tổng duyệt.” Tôi chưa kịp cảm ơn thì anh đã quay sang cô bạn phát thẻ. “Kiểm tra lại toàn bộ nhóm sinh viên có thay đổi thời gian học. Đừng để họ tự phát hiện từng người.” Câu nói ấy khiến tôi nhìn anh lâu hơn một chút. Rồi anh phá hỏng ấn tượng vừa tạo ra chỉ trong chưa đầy mười phút. Cuộc họp bắt đầu lúc chín giờ. Minh Triết chiếu lên màn hình sơ đồ lễ tốt nghiệp: ba lượt, mỗi lượt sáu mươi phút; sinh viên đi từ cánh gà trái, nhận bìa bằng, chụp ảnh ở điểm giữa rồi xuống bằng cầu thang phải. Mỗi người có tám giây. “Tám giây?” Tôi hỏi. “Từ lúc được gọi tên đến khi rời điểm chụp.” “Nếu tên bị đọc sai thì sao?” “Danh sách có phiên âm và đã đối chiếu.” “Nếu người đó đi chậm?” “Có lối hỗ trợ riêng.” “Nếu họ cần phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu?” “Đã cộng thời gian vào phần chuyển lượt.” Câu nào anh cũng có đáp án. Chính vì thế, khi trang cuối hiện lên, tôi càng không hiểu vì sao anh lại bỏ qua một dòng nhỏ ở góc màn hình. DANH SÁCH SÂN KHẤU: SINH VIÊN HOÀN THÀNH ĐÚNG NIÊN KHÓA VÀ ĐỦ ĐIỀU KIỆN TRƯỚC NGÀY BA MƯƠI THÁNG NĂM. Tôi giơ tay. “Những người đủ điều kiện sau ngày ba mươi thì sao?” “Nhận bằng ở phòng khoa.” “Người bảo lưu hoặc chuyển ngành?” “Xếp theo niên khóa hiện hành nếu có chỉ tiêu.” “Nếu không có?” “Nhận bằng ở phòng khoa.” Anh trả lời hai lần bằng cùng một giọng, như thể địa điểm nhận tấm bìa là toàn bộ ý nghĩa của buổi lễ. Tôi mở tệp danh sách được gửi cho nhóm lời dẫn. Tên tôi nằm ở mục nhân sự hậu trường, nhưng không có trong danh sách bước lên sân khấu. Cùng tôi còn mười chín người khác. “Vậy chúng tôi làm hậu trường cho một buổi lễ mà mình không được tham dự?” Cả phòng yên đi. Minh Triết đặt bút xuống. “Tiêu chí không do tôi đặt ra.” “Nhưng anh đang dùng nó.” “Vì hội trường, thời lượng và hợp đồng phát sóng đều đã khóa.” “Tám giây một người, nhưng không có tám giây cho người tốt nghiệp muộn?” Một vài người cúi nhìn bàn. Có lẽ họ nghĩ tôi đang biến việc riêng thành cuộc họp chung. Có lẽ họ nói đúng. Tên tôi là lý do đầu tiên khiến tôi chú ý, nhưng không phải lý do duy nhất khiến tôi tức giận. Trong danh sách bị loại có Trần Gia Hòa, sinh viên khoa thiết kế từng nghỉ một học kỳ sau tai nạn xe. Có Phùng Tuyết Mai, người chuyển từ hóa học sang công tác xã hội và học lại gần hai năm. Có Hà Dịch Thanh, sinh viên khiếm thính thường ngồi hàng đầu trong lớp tự chọn của tôi. Không ai trong số họ tốt nghiệp “đúng giờ”. Nhưng tất cả đều đã đi đến cuối. Minh Triết nhìn tôi. “Nếu cậu có phương án không làm vượt thời lượng và không hạ tiêu chuẩn an toàn, nộp trước thứ sáu.” “Hôm nay là thứ hai.” “Đúng.” “Anh cho tôi bốn ngày để sửa một tiêu chí đã dùng nhiều năm?” “Bảy ngày.” Anh chỉ lịch trên màn hình. “Thứ sáu tuần sau.” Tôi ghét việc anh sửa đúng một con số ngay giữa lúc tôi đang nổi nóng. “Được.” Tôi đóng máy tính. “Bảy ngày.” “Không phải một mình cậu.” Anh chuyển sang trang phân công. Dòng cuối cùng hiện tên chúng tôi cạnh nhau. RÀ SOÁT KHIẾU NẠI VÀ PHƯƠNG ÁN DANH SÁCH: TỐNG VÃN NGHI, LỤC MINH TRIẾT. Tôi bật cười vì không tin nổi. “Anh vừa là người giữ tiêu chí, vừa là người rà khiếu nại?” “Cậu vừa là người khiếu nại, vừa là người viết lời dẫn.” “Vậy rất công bằng.” “Ít nhất chúng ta đều có lý do để không tin nhau.” Đó là câu đầu tiên Lục Minh Triết nói khiến cả phòng bật cười. Sau cuộc họp, anh đưa tôi chìa khóa phòng đạo cụ phía sau sân khấu. Nơi đó được dùng làm phòng rà hồ sơ tạm thời. Trên tường có bảng trắng, cạnh cửa là một chiếc đồng hồ điện tử cũ đang chạy nhanh ba phút. Minh Triết đứng lên ghế, chỉnh nó về đúng giờ. “Anh không chịu được đồng hồ sai à?” tôi hỏi. “Không chịu được người khác phải trả giá vì nó sai.” Anh nói xong thì xuống ghế, không giải thích thêm. Chúng tôi bắt đầu với hai mươi hồ sơ. Tôi muốn gọi từng người đến hỏi họ mong gì. Minh Triết muốn phân nhóm lý do, thời gian di chuyển, hỗ trợ cần thiết và ảnh hưởng tới lịch sân khấu. “Con người không phải cột dữ liệu.” Tôi nói. “Nhưng nếu không có dữ liệu, cậu không chứng minh được họ có thể tham gia.” “Tôi có thể hỏi họ.” “Đó cũng là dữ liệu.” “Anh luôn nói chuyện như đang kẻ bảng à?” “Chỉ khi người đối diện muốn xóa cả bảng.” Tôi khoanh tay nhìn anh. Anh bình thản mở hồ sơ đầu tiên. Người đầu tiên đến là Hà Dịch Thanh. Dịch Thanh mang theo một cuốn sổ nhỏ. Cậu ấy đọc khẩu hình khá tốt nhưng muốn có phiên dịch trong buổi trao bằng. Khi tôi hỏi tên nên được đọc thế nào, cậu ấy viết ba chữ thật lớn lên giấy, rồi đánh dấu thanh điệu bên trên theo cách riêng. Tôi thử đọc. Dịch Thanh lắc đầu. Tôi đọc lại chậm hơn. Cậu ấy vẫn lắc đầu, sau đó đưa điện thoại cho tôi. Trên màn hình là một đoạn video cậu ấy tự ghi, trong đó Dịch Thanh nhìn thẳng vào ống kính và nói tên mình. Âm không tròn, nhưng từng chữ rõ ràng. Tôi chợt hiểu vấn đề không phải chỉ là người dẫn có đọc đúng hay không. “Cậu muốn tự nói tên mình?” tôi hỏi. Dịch Thanh gật đầu. Minh Triết nhìn đồng hồ. Đoạn video dài năm giây. “Có thể dùng bản ghi,” anh nói. “Người dẫn giới thiệu khoa, sau đó phát giọng của chính sinh viên.” Dịch Thanh gõ vào điện thoại rồi xoay màn hình về phía chúng tôi. Tôi muốn nói trực tiếp. Không muốn mọi người nghe một bản thu cũ trong khi tôi đang đứng đó. Tôi nhìn Minh Triết, chờ anh nhắc đến tám giây. Anh không nói. Anh kéo một tấm thẻ trắng từ chồng đạo cụ, viết tên Dịch Thanh bằng bút đen rồi đặt lên bàn. “Chúng ta thử một micro riêng ở điểm chờ,” anh nói. “Cậu tự nói tên. Người dẫn không đọc thay. Nếu cần thêm thời gian, tôi sẽ tìm nó ở phần chuyển cảnh.” Dịch Thanh nhìn anh một lúc rồi giơ ngón cái. Sau khi cậu ấy rời đi, tôi cầm tấm thẻ tên trắng lên. “Anh vừa tạo ngoại lệ.” “Không.” Minh Triết sửa lại mép thẻ cho thẳng. “Tôi đang kiểm tra một phương án.” “Khác nhau à?” “Ngoại lệ phụ thuộc vào người cho phép. Phương án có thể áp dụng cho bất kỳ ai cần nó.” Tôi không đáp ngay. Ngoài hành lang, nhóm kỹ thuật thử nhạc. Một đoạn trống vang qua cánh cửa rồi tắt đột ngột. Đồng hồ trên tường chỉ mười hai giờ mười bảy phút, chính xác đến khó chịu. Tôi nhìn tên Dịch Thanh trên tấm thẻ, rồi nhìn người ngồi đối diện. Có lẽ Lục Minh Triết không muốn xóa ai khỏi danh sách. Có lẽ anh chỉ tin rằng nếu không thể đưa tất cả lên đúng giờ, cách công bằng nhất là không hứa với bất kỳ ai. Tôi đặt tấm thẻ xuống giữa bàn. “Ngày mai chúng ta thử với năm người.” “Ba người.” “Năm.” “Bốn. Và cậu phải ghi thời gian từng bước.” “Tôi sẽ ghi. Nhưng anh phải hỏi họ muốn được giới thiệu thế nào trước khi mở bảng tính.” Minh Triết chìa tay. “Thỏa thuận.” Tôi nhìn bàn tay anh, rồi bắt lấy. Bàn tay ấy khô và ấm. Cái siết ngắn, vừa đủ, không mang ý nghĩa nào ngoài một công việc chung kéo dài bảy ngày. Ít nhất lúc đó tôi đã nghĩ như vậy. Tôi không biết trên ổ cứng của anh đang có một sơ đồ chỗ ngồi từ năm trước, với một chiếc ghế hàng cuối được giữ trống suốt buổi lễ. Trên lưng ghế, tên tôi đã từng được viết bằng chính nét chữ thẳng và gọn ấy.