hình sơ đồ lễ tốt nghiệp: ba lượt, mỗi lượt sáu mươi phút; sinh viên đi từ cánh gà trái, nhận bìa bằng, chụp ảnh ở điểm giữa rồi xuống bằng cầu thang phải. Mỗi người có tám giây. “Tám giây?” Tôi hỏi. “Từ lúc được gọi tên đến khi rời điểm chụp.” “Nếu tên bị đọc sai thì sao?” “Danh sách có phiên âm và đã đối chiếu.” “Nếu người đó đi chậm?” “Có lối hỗ trợ riêng.” “Nếu họ cần phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu?” “Đã cộng thời gian vào phần chuyển lượt.” Câu nào anh cũng có đáp án. Chính vì thế, khi trang cuối hiện lên, tôi càng không hiểu vì sao anh lại bỏ qua một dòng nhỏ ở góc màn hình. DANH SÁCH SÂN KHẤU: SINH VIÊN HOÀN THÀNH ĐÚNG NIÊN KHÓA VÀ ĐỦ ĐIỀU KIỆN TRƯỚC NGÀY BA MƯƠI THÁNG NĂM. Tôi giơ tay. “Những người đủ điều kiện sau ngày ba mươi thì sao?” “Nhận bằng ở phòng khoa.” “Người bảo lưu hoặc chuyển ngành?” “Xếp theo niên khóa hiện hành nếu có chỉ tiêu.” “Nếu không có?” “Nhận bằng ở phòng khoa.” Anh trả lời hai lần bằng cùng một giọng, như thể địa điểm nhận tấm bìa là toàn bộ ý nghĩa của buổi lễ. Tôi mở tệp danh sách được gửi cho nhóm lời dẫn. Tên tôi nằm ở mục nhân sự hậu trường, nhưng không có trong danh sách bước lên sân khấu. Cùng tôi còn mười chín người khác. “Vậy chúng tôi làm hậu trường cho một buổi lễ mà mình không được tham dự?” Cả phòng yên đi. Minh Triết đặt bút xuống. “Tiêu chí không do tôi đặt ra.” “Nhưng anh đang dùng nó.” “Vì hội trường, thời lượng và hợp đồng phát sóng đều đã khóa.” “Tám giây một người, nhưng không có tám giây cho người tốt nghiệp muộn?” Một vài người cúi nhìn bàn. Có lẽ họ nghĩ tôi đang biến việc riêng thành cuộc họp chung. Có lẽ họ nói đúng. Tên tôi là lý do đầu tiên khiến tôi chú ý, nhưng không phải lý do duy nhất khiến tôi tức giận. Trong danh sách bị loại có Trần Gia Hòa, sinh viên khoa thiết kế từng nghỉ một học kỳ sau tai nạn xe. Có Phùng Tuyết Mai, người chuyển từ hóa học sang công tác xã hội và học lại gần hai năm. Có Hà