Ngày thứ ba, Minh Dã đưa tôi một bộ bảng nhựa có những đường gờ nổi như sông trên bản đồ. “Đừng gọi nó là bản đồ,” anh nói. “Gọi là cách người ta tìm thấy đường về.” “Tôi chỉ cần đọc tên trạm.” “Người dùng cần biết còn bao nhiêu bước từ cột đèn tới cửa xe.” “Vậy anh thêm một ký hiệu.” “Không được.” Tôi ngẩng lên. Anh đẩy tấm bảng về phía tôi. “Nếu cô không thể mô tả vì sao phải có ký hiệu đó, người dùng sẽ phải học thuộc một hệ thống do chúng ta tự nghĩ ra.” Tôi chống cằm. “Anh có biết mình rất khó chịu không?” “Biết.” “Biết mà không định sửa?” “Cô cũng vậy.” Tôi muốn cãi, nhưng Nhã Lam bước vào trước khi tôi tìm được một câu đủ sắc. Chúng tôi đưa cô đi từ cửa ga đến trạm N7. Tôi đọc từng thông báo cũ, Minh Dã đặt tay Nhã Lam lên các mặt gờ, còn cô dừng lại ở đâu thì chúng tôi ghi nhận ở đó. Tại cột đèn thứ hai, Nhã Lam nói: “Ở đây đừng nói ‘đi thẳng’. Có người sẽ đi theo tiếng xe, mà xe lại đến từ phía sau.” Minh Dã ghi lại. Tôi hỏi: “Chị muốn câu nào?” “Có thể nói ‘mặt đường mở ở bên tay phải sau hai bước’, nhưng phải để tôi thử.” Tôi đợi. Cô bước hai bước, chạm mũi giày vào vạch sơn đã bong, rồi quay lại. “Ba bước. Câu của tôi sai.” Tôi sửa số. Minh Dã nói: “Không cần xin lỗi.” “Tôi không xin lỗi.” “Cô vừa xóa rất mạnh.” “Vì anh nhìn.” “Vì tôi biết cô muốn câu đúng.” Tôi nhìn anh. “Còn anh thì sao?” “Tôi muốn người nghe được quyền sửa câu đó.” Buổi chiều, chúng tôi đặt bản đồ mẫu ở phòng cộng đồng. Mọi người sờ, nghe, rồi dùng bút dạ đánh dấu những chỗ không hiểu. Có người viết chữ lớn. Có người chỉ dán chấm tròn. Một đứa bé đi theo mẹ đã biến góc bản đồ thành một mặt trời màu cam. Buổi kiểm thử đầu tiên thất bại sau bảy phút. Chúng tôi đã đặt bản đồ trên chiếc bàn cao ngang ngực tôi. Với Nhã Lam, độ cao ấy khiến cổ tay phải gập lên mới chạm được hết mặt bảng. Một người dùng xe lăn không thể tiến sát vì thanh ngang dưới bàn chặn đầu gối. “Bản đồ dễ đọc không?” tôi hỏi. Nhã Lam đáp: “Tôi chưa đọc được. Tôi đang bận giữ tay khỏi mỏi.” Minh Dã lập tức nhấc bảng xuống. “Đặt lên đùi chị được không?” “Anh hỏi tôi hay đang báo?” “Hỏi.” “Không. Đặt lên giá thấp hơn.” Chúng tôi mất hai mươi phút đi tìm giá nhạc cũ. Trần Kha nhìn đồng hồ ba lần. “Chỉ là chiều cao,” anh nói. Nhã Lam quay về phía anh. “Nếu tôi không với tới, nội dung đúng đến đâu cũng không tồn tại.” Trần Kha ngừng nhìn đồng hồ. Buổi kiểm thử thứ hai thất bại vì tiếng máy điều hòa. File thông báo của tôi đủ rõ trong tai nghe phòng thu, nhưng khi phát qua chiếc loa gần cửa, phụ âm cuối biến mất sau tiếng quạt. “Tôi nghe ‘Bạch Lộ’ thành ‘Bạch…’,” một bác công nhân nói. “Tăng âm lượng?” tôi hỏi. “Không,” Nhã Lam đáp. “Âm lượng lớn làm tiếng quạt lớn theo trong đầu tôi. Hãy đổi nhịp.” Tôi tách hai âm tiết, thêm khoảng nghỉ một phần tư giây. “Bạch. Lộ.” “Nghe như giáo viên điểm danh,” Minh Dã nói. “Anh có cách hay hơn?” Nhã Lam gõ tay xuống bàn. “Hai người đừng tranh bản quyền tên trạm. Cho chúng tôi thử.” Bốn người đọc bốn cách. Cách tốt nhất không phải giọng tròn nhất, mà là giọng của bác công nhân: ông kéo nhẹ âm đầu và hạ âm cuối, đủ để tên trạm tách khỏi tiếng quạt mà không thành mệnh lệnh. Tôi lưu file với tên `BACH_LO_nguoi_dung_01`, rồi dừng lại. “Bác có cho phép tôi lưu bản này để cả nhóm nghe lại không?” “Có. Nhưng chưa được phát trên xe.” Tôi thêm nhãn `CHUA_PHE_DUYET` bằng chữ đỏ. Buổi kiểm thử thứ ba không thất bại. Nó chỉ làm tôi xấu hổ. Tôi đã viết câu: “Hành khách cần hỗ trợ vui lòng đứng gần vạch vàng.” Một cô gái chống nạng hỏi: “Nếu tôi không đứng được lâu thì sao?” Tôi nói: “Có ghế chờ.” “Ghế cách vạch vàng sáu mét.” Minh Dã đo lại. Cô ấy đúng. “Tôi sẽ sửa thành ngồi ở ghế rồi báo tài xế,” tôi nói. “Báo bằng cách nào khi xe chưa đến?” Tôi không trả lời được. Trần Kha đề xuất nút gọi. Ngân sách không có. Minh Dã đề xuất một thẻ phản quang treo ở ghế. Cô gái hỏi liệu người khác có lấy nhầm không. Cuối cùng chính bác công nhân đề nghị sơn một dải dẫn từ ghế đến vạch và để tài xế nhìn ghế trước khi đóng cửa. Giải pháp không nằm trong chuyên môn của riêng ai. Nó xuất hiện khi đủ người được quyền nói một ý chưa hoàn chỉnh. Một nhu cầu có thể có nhiều cách hợp lệ để đáp ứng; nhiệm vụ của chúng tôi không phải ép tất cả đi chung một đường. Tôi muốn lau hình mặt trời màu cam đi. Minh Dã giữ cổ tay tôi lại. “Để đó.” “Nó che ký hiệu.” “Nó cho biết người dùng đã chạm vào đâu.” “Đó là trẻ con.” “Vậy thì trẻ con cũng là người dùng của không gian này.” Tôi rút tay về. Cổ tay nơi anh chạm vào nóng hơn căn phòng. Đêm ấy, tôi đến Bạch Lộ sớm hơn lịch khảo sát. Chiếc ô vàng đã ở đó, nước mưa nhỏ xuống nền gạch thành một vòng tròn. Tôi cầm nó lên. Bên trong tay cầm có một mảnh giấy chống nước. Không phải tên. Chỉ là dòng chữ: “Nếu lấy, hãy để lại nơi người khác nhìn thấy.” Tôi bật cười. Câu này có giọng của Minh Dã. Tôi lấy bút, viết dưới dòng ấy: “Nếu cần, cứ giữ đến khi hết mưa.” Tôi gấp mảnh giấy lại, dựng ô vào đúng vị trí rồi lên xe. Sáng hôm sau, mảnh giấy đã được mở ra. Bên dưới câu của tôi có thêm một dòng chữ khác: “Có người cần ô lâu hơn một chuyến xe.” Tôi nhìn nét chữ nghiêng, không biết vì sao lại nghĩ đến anh. Trong hai tuần tiếp theo, công việc của chúng tôi diễn ra bằng những câu rất nhỏ. “Đoạn này nhanh quá.” “Bản đồ này thiếu khoảng nghỉ.” “Đừng gọi là người gặp khó khăn.” “Vậy gọi là gì?” “Hỏi họ.” Minh Dã thường đến phòng thu khi tôi đang cắt âm. Anh không nói chuyện trong lúc tôi nghe lại. Chỉ đặt một cốc trà gừng bên tay phải, nơi tôi luôn tìm thấy nó mà không cần nhìn. Tôi bắt đầu để một chiếc khăn khô bên cạnh bản đồ của anh khi trời mưa. Không ai nói đó là chăm sóc. Một tối, Minh Dã đến muộn gần bốn mươi phút. Anh không gửi tin. Khi bước vào, áo anh khô nhưng tóc ướt, như thể đã chạy qua mưa mà quên mở ô. “Anh đi đâu?” tôi hỏi. “Đón em gái.” “Cô ấy ổn không?” “Ổn. Chỉ là thang máy ở ga hỏng mà ứng dụng không báo.” Anh đặt lên bàn một bức ảnh: em gái anh ngồi trước cầu thang, phía sau là biển chỉ dẫn ghi lối tiếp cận nhưng mũi tên dẫn đến cánh cửa khóa. “Tôi đã gửi phản ánh,” anh nói. “Họ trả lời gì?” “Xin lỗi vì bất tiện.” “Và?” “Không có và.” Tôi mở hệ thống thông báo sự cố. Thang máy hỏng đã được ghi nhận từ ba giờ chiều, nhưng thông tin chỉ nằm trong bảng kỹ thuật, không chuyển sang ứng dụng hành khách hay loa ở ga. “Chúng ta có thể thêm loại thông báo này vào N7,” tôi nói. Minh Dã lắc đầu. “Đừng biến chuyện của em tôi thành ví dụ dự án khi chưa hỏi.” Tôi dừng tay. “Đúng. Anh hỏi cô ấy trước.” “Cô không giận à?” “Vì anh nhắc tôi làm đúng?” “Vì tôi vừa chặn một ý tốt.” “Ý tốt không có quyền ưu tiên.” Anh nhìn tôi một lúc, rồi gọi cho em gái. Không bật loa ngoài. Sau cuộc gọi, anh nói cô ấy đồng ý để dùng sự cố, nhưng không dùng ảnh và không ghi tên. Tôi tạo mục mới: “Thiết bị tiếp cận tạm ngừng hoạt động.” “Câu đầu là gì?” anh hỏi. Tôi đọc: “Thang máy tại ga Bạch Lộ hiện không hoạt động. Lối thay thế nằm ở…” “Khoan. Nếu không có lối thay thế thì sao?” “Phải nói không có.” “Ban vận hành sẽ không thích.” “Hành khách cũng không thích bị dẫn đến cánh cửa khóa.” Chúng tôi viết hai phiên bản: có lối thay thế và không có lối thay thế. Phiên bản thứ hai kết thúc bằng số hỗ trợ và quyền đổi chuyến không mất phí. Trần Kha phản đối khoản đổi chuyến. “Đó là chính sách tài chính, không phải thông báo,” anh nói. “Thông báo không tạo ra quyền,” tôi đáp. “Nhưng nếu quyền có sẵn mà người dùng không biết, nó cũng vô dụng.” Minh Dã thêm: “Và nếu quyền chưa có, dự án này vừa chỉ ra thứ cần sửa.” Trần Kha xoa trán. “Hai người bắt đầu giống nhau rồi.” Tôi và Minh Dã cùng nói: “Không.” Rồi cả hai cùng cười. Tối đó, em gái anh gửi một tin nhắn ngắn qua máy Minh Dã: “Đừng nói chúng tôi cần được cứu. Hãy nói hệ thống đã đóng cửa với chúng tôi.” Tôi xin phép lưu câu ấy trong nguyên tắc nội bộ. Cô đồng ý, với điều kiện không dùng nó trong truyền thông. Tôi ghi điều kiện bằng chữ in hoa. Minh Dã nhìn tôi cẩn thận lưu file. “Cô thay đổi nhanh hơn tôi nghĩ,” anh nói. “Đừng khen sớm.” “Tôi không khen. Tôi đang ghi nhận.” “Khác gì?” “Ghi nhận không bắt cô phải tiếp tục để làm tôi hài lòng.” Tôi quay sang anh. “Anh có luôn nói những câu khiến người khác khó ngủ không?” “Chỉ khi làm ca đêm.” Nhã Lam nói thẳng hơn. “Các cô cậu đang tán tỉnh bằng tài liệu hướng dẫn à?” Tôi suýt làm rơi máy ghi âm. Minh Dã bình thản hỏi: “Tài liệu nào?” “Bản cô sửa câu cho anh. Bản anh sửa ký hiệu cho cô.” “Đó là kiểm định.” “Ừ. Kiểm định lẫn nhau.” Tôi quay sang cửa sổ. Mưa chạy thành những đường dài trên kính. Chiều thứ mười bảy, Trần Kha đưa chúng tôi lịch chốt mẫu. “Không còn thời gian cho thêm một vòng khảo sát,” anh nói. “Cuối tuần phải phát bản thử.” “Chúng ta chưa có consent cuối của nhóm người dùng,” tôi đáp. “Có thể dùng bản ghi thử. Ai phản đối thì sửa sau.” Minh Dã ngẩng lên. “Không.” Trần Kha nhìn anh. “Cậu cũng biết dự án cần chạy.” “Chạy một hệ thống mà người dùng không được duyệt giọng của mình thì chỉ là chạy nhanh hơn đến sai lầm.” Tôi nhìn Minh Dã. Lần đầu tiên anh nói thay tôi, tôi thấy biết ơn. Lần đầu tiên tôi nhận ra cảm giác ấy cũng có thể là một cái bẫy. Tối đó, chúng tôi ở lại phòng làm việc sau khi mọi người về. Tôi viết lại ba câu thông báo. Anh sửa bản đồ thêm một mặt gờ. “Anh từng làm vậy với ai chưa?” tôi hỏi. “Làm gì?” “Để ô ở trạm.” Anh không trả lời ngay. Ngoài cửa, mưa bắt đầu nặng hạt. “Có,” anh nói. “Một năm rồi.” Tôi đặt bút xuống. “Bao nhiêu lần?” “Không đếm.” “Anh nghĩ người lấy biết là anh?” “Không.” “Vậy anh vẫn để?” “Cô thì sao?” Tôi không nói được. Minh Dã quay sang tôi. “Cái ô của cô có dây buộc màu xanh.” Tôi nhìn xuống tay mình. Dây buộc màu xanh đang nằm trong ngăn kéo. “Còn anh viết chữ nghiêng,” tôi nói. Chúng tôi ngồi im, nhận ra mình đã chăm sóc cùng một nơi bằng hai cách khác nhau suốt một năm. Không ai cười. Không ai nói yêu. Chỉ có chiếc ô vàng nằm giữa hai người, ướt, cũ và không còn đủ để che cả hai nếu họ cứ tiếp tục đứng cách nhau như vậy.