Sau đêm đó, tôi và Minh Dã nói chuyện ít hơn. Không phải vì không có gì để nói. Là vì mỗi câu đều có thêm một lớp nghĩa mà chúng tôi chưa sẵn sàng chạm vào. Trần Kha gửi lịch chốt lần cuối vào sáng thứ hai. Bản thử sẽ phát trên N7 vào đêm thứ bảy. Nhóm người dùng chỉ còn hai buổi để duyệt. “Chúng ta cần một bản demo ngay hôm nay,” tôi nói. “Chúng ta cần một buổi nghe cùng họ,” Minh Dã đáp. “Cả hai không loại trừ nhau.” “Nhưng cô đang mở phần mềm trước khi họ đồng ý nghe bản đầu.” “Tôi có thể xóa.” “Không phải mọi thứ xóa được đều nên làm trước.” Tôi ghét khi anh đúng bằng một giọng bình tĩnh. Từ Nhã Lam mời chúng tôi đến phòng cộng đồng. Cô đặt lên bàn một tập thẻ nhỏ. “Mỗi người ghi một điều mình muốn hệ thống nhớ,” cô nói. “Không phải câu các bạn muốn phát. Chỉ là điều các bạn không muốn bị đoán sai.” Một thẻ viết: “Tôi không cần ai nói chậm hơn khi tôi đã nói mình nghe được.” Một thẻ khác: “Tôi cần thông báo nói rõ vật cản ở đâu, không cần nói tôi đáng thương.” Minh Dã đọc rất lâu. Tôi hỏi: “Chúng ta có thể dùng các thẻ này làm nguyên tắc biên tập không?” Nhã Lam đáp: “Có. Nhưng đừng biến chúng thành khẩu hiệu của các bạn. Đó là lời của chúng tôi.” Tôi ghi lại câu ấy. Ba ngày trước buổi chạy thử, Trần Kha báo rằng ngân sách chỉ giữ được một bản giọng nữ và một bản bản đồ mẫu. Nếu không có demo thuyết phục, dự án sẽ bị trả về. Tôi và Minh Dã ngồi trong phòng thu đến gần sáng. “Chúng ta phải cho họ thấy,” tôi nói. “Cho ai thấy?” “Ban vận hành.” “Hay cho chính chúng ta?” Tôi mở file ghi âm. “Tôi sẽ không phát công khai. Chỉ làm bản nháp.” “Nháp cũng cần quyền của người góp giọng.” “Tôi không dùng giọng của họ. Tôi đọc lại nội dung.” Minh Dã nhìn tôi. “Vậy thì càng phải nói rõ đó là giọng của cô.” Tôi im lặng. Anh không ngăn tôi. Đó là điều khiến tôi tưởng mình được phép. Tôi lấy các thẻ nguyên tắc, viết một bản thông báo mẫu, rồi đọc bằng giọng của mình. Tôi không kể lý lịch, không thêm câu thương cảm, chỉ nói lối đi, độ dốc và quyền yêu cầu dừng xe. Bản demo nghe tốt. Quá tốt. Tôi gửi cho ban vận hành trước khi gửi cho nhóm người dùng. Mười phút sau, Trần Kha nhắn: “Đây chính là thứ chúng ta cần.” Mười hai phút sau, Nhã Lam gọi. “Cô đã phát bản này chưa?” “Chưa. Đây là bản nháp.” “Nhưng câu cuối là từ thẻ của tôi.” “Tôi nghĩ ý đó đúng với mọi người.” “Không phải chuyện đúng hay sai.” Giọng cô không lớn, nhưng từng từ đều đặt xuống rõ ràng. “Cô đã xin tôi cho phép đưa nó vào bản phát hành chưa?” Tôi nhìn màn hình. “Chưa.” “Vậy thì cô đã lấy điều tôi nói để làm bằng chứng cho một bản demo của cô.” Minh Dã đứng dậy khỏi bàn bên kia. “Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Đừng xin lỗi để kết thúc cuộc gọi.” Tôi cắn môi. Nhã Lam nói tiếp: “Nếu cô muốn sửa, hãy nói chính xác cô đã làm gì.” “Tôi đã dùng câu trong thẻ của chị, chuyển nó thành thông báo, đọc bằng giọng mình và gửi cho ban vận hành trước khi chị duyệt. Tôi đã làm sai, và tôi không có quyền đại diện cho chị.” “Đúng. Bây giờ cô biết phải sửa gì chưa?” “Tôi sẽ xóa file và nói với họ bản demo không được dùng.” “Còn nữa.” “Tôi sẽ không dùng lại câu đó nếu chưa có consent riêng.” “Được.” Cuộc gọi kết thúc. Tôi xóa file trước mặt Minh Dã. Anh không nói “không sao”. Tôi biết ơn anh vì điều đó. Nhưng xóa file trên máy tôi không có nghĩa nó biến mất ở nơi khác. Tôi gọi cho Trần Kha. “Anh đã chuyển bản demo cho ai?” “Trưởng phòng vận hành và nhóm truyền thông nội bộ.” “Có ai tải xuống không?” “Không biết.” “Vậy hãy hỏi.” “Vãn Tình, bây giờ gần nửa đêm.” “Câu trong đó không thuộc về tôi. Tôi không thể đợi đến sáng để hỏi xem nó đã đi đâu.” Minh Dã ngồi đối diện, mở một bảng theo dõi. Anh không làm thay tôi. Anh chỉ đẩy màn hình sang để tôi tự ghi từng người nhận, thời điểm gửi và trạng thái thu hồi. Trưởng phòng đã nghe nhưng chưa tải. Nhóm truyền thông đã lưu bản mp3 vào thư mục chung. Một nhân viên còn cắt mười hai giây đầu để thử ghép vào video giới thiệu. Tôi yêu cầu xóa cả hai bản và gửi ảnh chụp thư mục sau khi xóa. Người nhân viên hỏi: “Chỉ là bản nội bộ, có nghiêm trọng thế không?” Tôi trả lời: “Nghiêm trọng vì tôi đã dùng lời của người khác mà chưa được phép. Nội bộ không làm quyền của họ nhỏ đi.” Đến một giờ bốn mươi, bảng theo dõi mới có đủ dấu xác nhận. Tôi gửi nó cho Nhã Lam, không phải để chứng minh mình đã làm tốt, mà để cô biết bản demo đã đi qua những đâu. Cô trả lời: “Tôi cần thời gian kiểm tra lại với nhóm.” “Bao lâu cũng được.” “Tôi không cần cô cho phép tôi cần thời gian.” Tôi nhắm mắt. “Đúng. Tôi xin lỗi vì lại nói thay.” “Lần này cô nhận ra nhanh hơn.” Đó không phải lời tha thứ. Tôi không biến nó thành một lời tha thứ. Sáng hôm sau, ban vận hành gửi thông báo: dự án bị đình chỉ cho đến khi có quy trình duyệt mới. Trần Kha yêu cầu chúng tôi giải trình. Tôi nói phần sai là của tôi. Minh Dã nói phần sai cũng của anh. Trần Kha cau mày. “Cậu không đọc bản đó.” “Nhưng tôi thấy cô ấy mở file và không dừng lại.” “Cậu không chịu trách nhiệm thay cô ấy.” “Không. Tôi chịu trách nhiệm vì đã nghĩ im lặng là tôn trọng. Tôi biết quy trình thiếu bước mà vẫn để cô ấy đi tiếp.” Tôi nhìn anh. Sau cuộc họp, tôi hỏi: “Anh không cần nhận phần đó.” “Em gái tôi từng bị người khác nói thay trong một cuộc họp thiết kế,” anh nói. “Tôi đã nghĩ nếu mình không giành micro của ai thì mình đang làm đúng. Nhưng đôi khi không lên tiếng cũng là để mặc hệ thống chạy qua người khác.” Đây là lần đầu anh kể về em gái. Phiên điều trần nội bộ diễn ra vào chiều hôm sau. Tôi gọi nó là điều trần vì không có từ nào nhẹ hơn mà vẫn đúng. Nhóm người dùng ngồi một phía bàn, ban vận hành ngồi phía kia. Tôi và Minh Dã không ngồi ở đầu bàn. Trưởng phòng hỏi Nhã Lam: “Nhóm chị muốn xử lý nhân sự thế nào?” Tôi siết tay dưới gầm bàn. Nhã Lam nghe thấy tiếng ghế của tôi nhưng không quay sang. “Đó là trách nhiệm của đơn vị sử dụng họ,” cô nói. “Chúng tôi không đến để quyết định ai bị kỷ luật.” “Vậy mong muốn của nhóm là gì?” “Mong muốn đầu tiên là đừng bắt chúng tôi biến tổn thương thành đề xuất hoàn chỉnh. Chúng tôi có thể nói điều không chấp nhận. Các anh chị phải tự xây phần còn lại cùng chúng tôi.” Một thành viên ban vận hành hỏi: “Nếu cô Hạ đã nhận lỗi và file đã được thu hồi, nhóm có đồng ý tiếp tục theo quy trình cũ với thêm một bước ký xác nhận không?” “Không.” Câu trả lời đến ngay. “Vì sao?” “Quy trình cũ coi consent là chữ ký cuối. Chúng tôi muốn đó là quyền thay đổi quyết định.” “Nhưng dự án cần tính ổn định.” Nhã Lam đặt bốn tấm thẻ lên bàn. “Thu. Lưu. Phát thử. Phát chính thức. Bốn quyết định. Nếu các anh chị gộp chúng lại để ổn định hơn, sự ổn định ấy được mua bằng quyền của người khác.” Trần Kha hỏi: “Nếu một người rút consent sau khi bản thu đã phát thì sao?” “Có thời gian thay thế đã cam kết. Không thể xóa âm thanh đã nghe khỏi đầu người khác, nhưng có thể ngừng dùng nó.” “Trong bao lâu?” “Đó là thứ cần thương lượng.” Mọi người tranh luận về bốn giờ, một ngày, ba ngày. Tôi không đề xuất con số. Cuối cùng nhóm chọn hai mươi bốn giờ cho bản thử và bảy mươi hai giờ cho tài liệu đào tạo, với điều kiện nội dung nhạy cảm phải dừng ngay. Trưởng phòng quay sang tôi. “Cô có ý kiến không?” “Tôi có câu hỏi.” “Hỏi đi.” Tôi nhìn Nhã Lam. “Chị có muốn tôi hỏi ở đây không?” “Có.” “Nếu tôi tiếp tục làm biên tập, chị muốn ai kiểm tra lịch sử file?” “Không phải một người. Nhóm cần quyền xem nhật ký. Và cô không được tự xóa lịch sử sửa sai để làm hồ sơ đẹp hơn.” “Tôi đồng ý.” Một người trong ban vận hành nói: “Cô đồng ý thì dễ. Chúng tôi phải xây hệ thống.” Tôi đáp: “Vậy hãy ghi đó là chi phí thật của dự án, không gọi nó là yêu cầu phát sinh từ người dùng.” Minh Dã không nhìn tôi, nhưng tôi thấy ngón tay anh thôi gõ lên bàn. Cuối phiên, không ai tuyên bố tôi được tha thứ. Biên bản chỉ ghi dự án có thể tiếp tục sau khi bốn điều kiện kỹ thuật được triển khai. Tôi ký tên dưới phần trách nhiệm của mình. Nhã Lam ký dưới phần điều kiện do nhóm đề xuất, rồi gạch chữ “đại diện duy nhất”. “Ghi là một thành viên,” cô nói. “Tôi không nói thay tất cả.” Thư ký sửa lại. Khi căn phòng gần trống, tôi hỏi Nhã Lam: “Chị có muốn tôi xin lỗi thêm không?” “Không. Tôi muốn cô làm phần đã cam kết.” “Được.” “Và Vãn Tình này.” “Tôi nghe.” “Đừng biến việc mình không được tha thứ ngay thành một bi kịch riêng. Chúng tôi không có nhiệm vụ giúp cô cảm thấy mình vẫn là người tốt.” Tôi nuốt xuống câu giải thích vừa dâng lên. “Tôi hiểu.” “Cô chưa hiểu hết đâu.” “Vậy tôi sẽ không nói là đã hiểu hết.” Lần này, Nhã Lam mỉm cười rất nhẹ. Tôi muốn chạm vào vai Minh Dã, nhưng dừng lại. “Anh có muốn tôi ngồi đây không?” tôi hỏi. Anh nhìn tôi, hơi ngạc nhiên. “Có.” “Tôi có thể ngồi gần không?” “Có.” Tôi kéo ghế lại, không chạm vào anh. Buổi chiều, Nhã Lam gửi một email ngắn: nhóm người dùng không rời dự án, nhưng họ muốn quyền dừng bất kỳ bản ghi nào, kể cả sau khi phát thử. Email có một tệp bảng do chính nhóm lập. Bốn cột, mỗi cột là một quyết định riêng: cho phép thu, cho phép lưu, cho phép phát thử, cho phép phát chính thức. Không ô nào được tự động đánh dấu theo ô trước. Tôi gọi cho cô. “Chị có muốn tôi chuyển bảng này thành biểu mẫu điện tử không?” “Có, nhưng giữ bản giấy.” “Vì sao?” “Có người không dùng điện thoại thông minh. Có người không muốn tên mình nằm trên hệ thống. Có người muốn tự thu âm nhưng không muốn lưu giọng sau buổi thử.” Tôi ghi lại từng trường hợp. “Còn bản đồ?” tôi hỏi. “Người dùng phải được tự thiết kế ký hiệu trước khi Minh Dã chuẩn hóa. Nếu anh ấy đưa mẫu sẵn, mọi người sẽ chỉ chọn trong những thứ anh ấy đã nghĩ.” “Tôi sẽ nói với anh ấy.” “Đừng nói thay tôi. Mời anh ấy vào cuộc gọi.” Tôi thêm Minh Dã. Nhã Lam lặp lại yêu cầu. Anh không tranh luận. “Chị muốn tôi có mặt khi nhóm phác thảo không?” anh hỏi. “Có, nhưng không cầm bút trước.” “Được.” “Và nếu anh thấy một ký hiệu không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật?” “Tôi sẽ giải thích giới hạn, không xóa nó.” Nhã Lam im lặng vài giây. “Vậy chúng ta có thể thử lại.” Tôi đọc đi đọc lại câu đó. Minh Dã nói: “Họ không cần chúng ta cứu dự án.” “Họ cần chúng ta trả quyền lại.” “Và chúng ta phải chịu được việc bản cuối không giống thứ mình tưởng tượng.” Tôi gật. Tối đó, tôi đến Bạch Lộ một mình. Chiếc ô vàng vẫn ở cột biển, nhưng dây xanh đã đứt. Tôi mở nó ra, đứng dưới mưa và nghe tiếng nước gõ lên vải. Tôi có thể mang nó về. Tôi có thể mua một chiếc mới. Tôi có thể để lại một lời nhắn giải thích rằng mình đã sai. Tôi không làm gì cả. Tôi chỉ đứng đó cho đến khi mưa nhẹ đi. Lúc quay lại, tôi thấy Minh Dã ở bên kia đường. Anh không sang ngay. “Anh theo tôi à?” “Không. Tôi đến trả ô.” “Ô vẫn ở đó.” “Vậy tôi đến trả lời.” “Trả lời gì?” “Câu hỏi cô chưa hỏi.” Tôi nhìn anh. Anh nói: “Tôi để ô vì có người từng nói với tôi rằng được giúp mà không phải giải thích cũng là một dạng an toàn. Nhưng tôi không biết ai cần gì. Tôi chỉ biết mình có một cái ô thừa.” Tôi khẽ cười. “Còn tôi để ô vì tôi ghét cảnh người ta đứng dưới mưa chờ chuyến cuối mà không ai quay lại.” “Cô cũng không biết ai cần.” “Không.” “Chúng ta đều tưởng mình đang âm thầm tử tế.” “Có lẽ.” “Còn tình cảm thì sao?” Câu hỏi đến quá thẳng. Tôi nghe tiếng xe chạy qua, nước bắn lên vỉa hè. “Anh đang hỏi về tình cảm nào?” Anh cười, lần đầu tiên có vẻ lúng túng. “Của tôi.” Tôi không trả lời ngay. Tôi muốn anh nói tiếp, nhưng cũng muốn mình không trốn sau một câu hỏi kỹ thuật. “Tôi cũng có,” tôi nói. “Có gì?” “Tình cảm.” Chiếc ô vàng ở giữa chúng tôi không đủ rộng, nhưng lần này không ai cố kéo nó về phía mình. Chúng tôi đứng dưới hai mái hiên khác nhau, cùng biết rằng thích một người không cho mình quyền đoán họ cần gì. Và cũng không giải quyết được việc dự án đã bị đình chỉ. Ngày mai, chúng tôi phải bắt đầu lại từ một căn phòng trống, với micro bị tắt và những tấm thẻ chưa được phép đọc.