chú ý sau hai âm tiết không?” “Có thể không.” “Vậy cô cần gì trước câu thông báo?” “Tín hiệu âm thanh.” “Tín hiệu kiểu nào?” Tôi mở thư viện âm thanh, chọn một tiếng chuông sáng. Nhã Lam vừa bước vào đã nhăn mặt. “Đừng dùng tiếng đó.” “Tại sao?” “Nó giống báo cháy ở bệnh viện.” Tôi đổi sang một tiếng gỗ gõ nhẹ. Một người khác nói nó giống tiếng cửa đóng. Tiếng đàn ba nốt bị cho là quá dài. Tiếng nước rơi khiến một bác tài nghĩ đường trơn. Cuối cùng, nhóm chọn hai nhịp trầm cách nhau nửa giây, không giống bất kỳ cảnh báo khẩn nào trên tuyến. Tôi hỏi: “Mọi người có muốn giữ cùng một tín hiệu cho mọi loại thông báo không?” Nhã Lam đáp: “Không. Cảnh báo an toàn phải khác thông tin điểm dừng.” “Vậy chúng ta cần hai bộ.” “Ba,” bác tài nói. “Còn thông báo do tài xế nói trực tiếp.” Trần Kha thở dài. “Cứ thêm thế này thì file sẽ nhiều gấp đôi.” “Tệ hơn,” tôi nói. “Gấp ba.” Anh nhìn tôi như chờ tôi phản đối. Tôi nói tiếp: “Nhưng hệ thống phải phản ánh tình huống thật, không phải phản ánh số file dễ quản lý.” Minh Dã nghiêng đầu. “Cô vừa khó chịu hơn hôm qua.” “Anh truyền đấy.” “Tôi thấy tự hào.” Sau buổi thử, tôi ở lại đặt lại tên file theo mã loại tín hiệu. Minh Dã không về. Anh lấy thước đo khoảng cách giữa các nút trên máy phát mẫu. “Anh đang làm gì?” “Nút dừng quá gần nút phát. Người không nhìn màn hình có thể bấm nhầm.” “Đó là phần mềm của tôi.” “Là nút của người dùng.” Tôi kéo ghế cho anh. Chúng tôi tranh luận đến gần nửa đêm về một khoảng cách mười hai milimét. Anh muốn mười tám. Tôi nói màn hình không đủ rộng. Cuối cùng, Nhã Lam gọi video và bảo cả hai im lặng để cô thử trên bản mẫu từ xa. “Mười lăm,” cô nói. Minh Dã quay sang tôi. “Hòa.” “Không. Chị ấy thắng.” Nhã Lam nghe thấy. “Đúng.” Ở trạm cuối Bạch Lộ, trời bắt đầu mưa. Một chiếc ô màu vàng dựng bên cột biển, tay cầm quấn băng vải xanh. Nhã Lam chạm vào nó, rồi nhìn quanh. “