giữ câu đó trong sổ không?” “Có.” Tôi ghi ngày, giờ và tên người cho phép. Anh nhìn dòng chữ rồi hỏi: “Cô làm vậy với mọi câu nói à?” “Không. Từ hôm nay.” “Vậy tôi là người đầu tiên?” “Đừng tự hào quá.” “Không kịp rồi.” Tôi đã cười. Và lần đầu tiên, câu hỏi về đồng thuận không làm căn phòng lạnh đi. Nó khiến hai người ngồi trong đó biết mình đang ở đâu. Ngày thứ ba, Minh Dã đưa tôi một bộ bảng nhựa có những đường gờ nổi như sông trên bản đồ. “Đừng gọi nó là bản đồ,” anh nói. “Gọi là cách người ta tìm thấy đường về.” “Tôi chỉ cần đọc tên trạm.” “Người dùng cần biết còn bao nhiêu bước từ cột đèn tới cửa xe.” “Vậy anh thêm một ký hiệu.” “Không được.” Tôi ngẩng lên. Anh đẩy tấm bảng về phía tôi. “Nếu cô không thể mô tả vì sao phải có ký hiệu đó, người dùng sẽ phải học thuộc một hệ thống do chúng ta tự nghĩ ra.” Tôi chống cằm. “Anh có biết mình rất khó chịu không?” “Biết.” “Biết mà không định sửa?” “Cô cũng vậy.” Tôi muốn cãi, nhưng Nhã Lam bước vào trước khi tôi tìm được một câu đủ sắc. Chúng tôi đưa cô đi từ cửa ga đến trạm N7. Tôi đọc từng thông báo cũ, Minh Dã đặt tay Nhã Lam lên các mặt gờ, còn cô dừng lại ở đâu thì chúng tôi ghi nhận ở đó. Tại cột đèn thứ hai, Nhã Lam nói: “Ở đây đừng nói ‘đi thẳng’. Có người sẽ đi theo tiếng xe, mà xe lại đến từ phía sau.” Minh Dã ghi lại. Tôi hỏi: “Chị muốn câu nào?” “Có thể nói ‘mặt đường mở ở bên tay phải sau hai bước’, nhưng phải để tôi thử.” Tôi đợi. Cô bước hai bước, chạm mũi giày vào vạch sơn đã bong, rồi quay lại. “Ba bước. Câu của tôi sai.” Tôi sửa số. Minh Dã nói: “Không cần xin lỗi.” “Tôi không xin lỗi.” “Cô vừa xóa rất mạnh.” “Vì anh nhìn.” “Vì tôi biết cô muốn câu đúng.” Tôi nhìn anh. “Còn anh thì sao?” “Tôi muốn người nghe được quyền sửa câu đó.” Buổi chiều, chúng tôi đặt bản đồ mẫu ở phòng cộng đồng. Mọi người