thử thứ ba không thất bại. Nó chỉ làm tôi xấu hổ. Tôi đã viết câu: “Hành khách cần hỗ trợ vui lòng đứng gần vạch vàng.” Một cô gái chống nạng hỏi: “Nếu tôi không đứng được lâu thì sao?” Tôi nói: “Có ghế chờ.” “Ghế cách vạch vàng sáu mét.” Minh Dã đo lại. Cô ấy đúng. “Tôi sẽ sửa thành ngồi ở ghế rồi báo tài xế,” tôi nói. “Báo bằng cách nào khi xe chưa đến?” Tôi không trả lời được. Trần Kha đề xuất nút gọi. Ngân sách không có. Minh Dã đề xuất một thẻ phản quang treo ở ghế. Cô gái hỏi liệu người khác có lấy nhầm không. Cuối cùng chính bác công nhân đề nghị sơn một dải dẫn từ ghế đến vạch và để tài xế nhìn ghế trước khi đóng cửa. Giải pháp không nằm trong chuyên môn của riêng ai. Nó xuất hiện khi đủ người được quyền nói một ý chưa hoàn chỉnh. Một nhu cầu có thể có nhiều cách hợp lệ để đáp ứng; nhiệm vụ của chúng tôi không phải ép tất cả đi chung một đường. Tôi muốn lau hình mặt trời màu cam đi. Minh Dã giữ cổ tay tôi lại. “Để đó.” “Nó che ký hiệu.” “Nó cho biết người dùng đã chạm vào đâu.” “Đó là trẻ con.” “Vậy thì trẻ con cũng là người dùng của không gian này.” Tôi rút tay về. Cổ tay nơi anh chạm vào nóng hơn căn phòng. Đêm ấy, tôi đến Bạch Lộ sớm hơn lịch khảo sát. Chiếc ô vàng đã ở đó, nước mưa nhỏ xuống nền gạch thành một vòng tròn. Tôi cầm nó lên. Bên trong tay cầm có một mảnh giấy chống nước. Không phải tên. Chỉ là dòng chữ: “Nếu lấy, hãy để lại nơi người khác nhìn thấy.” Tôi bật cười. Câu này có giọng của Minh Dã. Tôi lấy bút, viết dưới dòng ấy: “Nếu cần, cứ giữ đến khi hết mưa.” Tôi gấp mảnh giấy lại, dựng ô vào đúng vị trí rồi lên xe. Sáng hôm sau, mảnh giấy đã được mở ra. Bên dưới câu của tôi có thêm một dòng chữ khác: “Có người cần ô lâu hơn một chuyến xe.” Tôi nhìn nét chữ nghiêng, không biết vì sao lại nghĩ đến anh. Trong hai tuần