thống mà người dùng không được duyệt giọng của mình thì chỉ là chạy nhanh hơn đến sai lầm.” Tôi nhìn Minh Dã. Lần đầu tiên anh nói thay tôi, tôi thấy biết ơn. Lần đầu tiên tôi nhận ra cảm giác ấy cũng có thể là một cái bẫy. Tối đó, chúng tôi ở lại phòng làm việc sau khi mọi người về. Tôi viết lại ba câu thông báo. Anh sửa bản đồ thêm một mặt gờ. “Anh từng làm vậy với ai chưa?” tôi hỏi. “Làm gì?” “Để ô ở trạm.” Anh không trả lời ngay. Ngoài cửa, mưa bắt đầu nặng hạt. “Có,” anh nói. “Một năm rồi.” Tôi đặt bút xuống. “Bao nhiêu lần?” “Không đếm.” “Anh nghĩ người lấy biết là anh?” “Không.” “Vậy anh vẫn để?” “Cô thì sao?” Tôi không nói được. Minh Dã quay sang tôi. “Cái ô của cô có dây buộc màu xanh.” Tôi nhìn xuống tay mình. Dây buộc màu xanh đang nằm trong ngăn kéo. “Còn anh viết chữ nghiêng,” tôi nói. Chúng tôi ngồi im, nhận ra mình đã chăm sóc cùng một nơi bằng hai cách khác nhau suốt một năm. Không ai cười. Không ai nói yêu. Chỉ có chiếc ô vàng nằm giữa hai người, ướt, cũ và không còn đủ để che cả hai nếu họ cứ tiếp tục đứng cách nhau như vậy. Sau đêm đó, tôi và Minh Dã nói chuyện ít hơn. Không phải vì không có gì để nói. Là vì mỗi câu đều có thêm một lớp nghĩa mà chúng tôi chưa sẵn sàng chạm vào. Trần Kha gửi lịch chốt lần cuối vào sáng thứ hai. Bản thử sẽ phát trên N7 vào đêm thứ bảy. Nhóm người dùng chỉ còn hai buổi để duyệt. “Chúng ta cần một bản demo ngay hôm nay,” tôi nói. “Chúng ta cần một buổi nghe cùng họ,” Minh Dã đáp. “Cả hai không loại trừ nhau.” “Nhưng cô đang mở phần mềm trước khi họ đồng ý nghe bản đầu.” “Tôi có thể xóa.” “Không phải mọi thứ xóa được đều nên làm trước.” Tôi ghét khi anh đúng bằng một giọng bình tĩnh. Từ Nhã Lam mời chúng tôi đến phòng cộng đồng. Cô đặt lên bàn một tập thẻ nhỏ. “Mỗi người ghi một điều mình muốn hệ thống nhớ,” cô nói. “Không