sát,” cô nói. Một người khác không đồng ý. “Chấm tròn giống vật cản.” Họ tranh luận mười lăm phút. Minh Dã không chạm vào bút. Cuối cùng nhóm chọn một đường gờ ngắt quãng, dễ phân biệt bằng đầu ngón tay và không mang hình ảnh cơ thể. Anh ghi tên người đề xuất vào biên bản. “Không cần ghi tên tôi,” cô gái nói. “Vậy tôi ghi ‘nhóm buổi ba’?” “Được.” Nhã Lam chia nhóm. Người sờ, người nghe, người đi thử, người ghi lại cảm giác của người đi thử. Tôi không còn ngồi ở máy tính một mình. Tôi đặt máy ghi âm giữa bàn, để nút dừng quay ra phía Nhã Lam. “Chị muốn thu không?” tôi hỏi mỗi lần. Có lần cô nói có. Có lần cô nói không. Có lần cô nói: “Thu đoạn đầu, nhưng tôi muốn nghe lại trước khi nói tiếp.” Tôi làm đúng. Minh Dã học cách không sửa bản đồ ngay khi ai đó chạm vào sai điểm. Anh hỏi: “Cô nghĩ ký hiệu này nên ở đâu?” rồi chờ đến khi người kia đặt tay xuống. Đêm thứ bảy, tuyến N7 chạy thử lại. Mưa rơi dày hơn bốn tuần trước. Trần Kha đứng ở cửa xe với danh sách mới, ban vận hành cử hai người đến quan sát, còn nhóm người dùng ngồi thành hàng phía sau. Tôi cầm micro. Bản thông báo hoàn chỉnh nằm trong máy tính bảng. Tôi có thể đọc nó trong ba phút. Mọi từ đã được cân nhắc, mọi khoảng nghỉ đã được đánh dấu. Tôi nhìn Nhã Lam. Cô lắc đầu. Không phải từ chối. Là nhắc tôi nhớ. Tôi quay về phía hành khách. “Đêm nay, thông báo sẽ không do một người đọc hết,” tôi nói. “Ai muốn nói phần của mình, xin hãy giơ thẻ trắng. Ai muốn dừng, chỉ cần đặt thẻ xuống.” Một người đặt thẻ xuống ngay lập tức. Tôi tắt micro. Không ai thúc giục. Một phút sau, người ấy nhấc thẻ lên. “Tôi muốn nói câu về cửa lên xuống,” anh nói. Tôi trao micro. Tôi từ chối dùng giọng mình để đọc thay phần họ có quyền tự nói. Anh nói chậm hơn bản mẫu, nhưng rõ hơn mọi bản thu trước đó. “Cửa trước mở về phía có cột đèn. Nếu bạn cần