thêm thời gian, xe sẽ chờ.” Anh dừng lại. “Đừng nói xe sẽ chờ nếu điều đó chưa được cam kết với tài xế,” Minh Dã nói. Người kia quay sang anh. “Vậy anh hỏi tài xế đi.” Trần Kha đi hỏi. Tài xế gật đầu: “Nếu hành khách đã báo trước, tôi sẽ chờ tối đa một phút.” Tôi ghi câu đó. Nhã Lam nói: “Bây giờ được.” Tôi đọc lại câu mới, nhưng cô lắc đầu. “Không. Để tài xế nói.” Trần Kha cầm micro. “Nếu bạn đã báo trước, tôi sẽ chờ tối đa một phút.” Chiếc xe im đi theo một cách kỳ lạ. Không phải vì không có âm thanh, mà vì lần đầu mọi người nghe thấy trách nhiệm đến từ đúng người có thể thực hiện nó. Minh Dã đặt tấm bản đồ trắng lên bàn gấp. Một cô bé sờ vào đường gờ, hỏi: “Tại sao đường này cong?” “Vì tôi vẽ theo hướng xe rẽ,” anh nói. “Nhưng tay em tưởng đó là đường đi thẳng.” Minh Dã lấy bút xóa được, vẽ lại một đoạn. “Em muốn đường cong hay muốn biết xe rẽ?” “Cả hai. Đường cong phải có chấm.” Anh thêm ba chấm. Nhã Lam chạm vào bản đồ. “Ba chấm này có nghĩa gì?” “Điểm chuyển hướng.” “Vậy viết tên trong quy ước.” “Chúng ta chưa có quy ước.” “Thì cùng lập.” Tôi nhìn họ. Bản đồ không còn là của Minh Dã nữa. Thông báo cũng không còn là của tôi. Đến trạm Bạch Lộ, chiếc ô vàng vẫn ở cột biển. Dây xanh đã được thay bằng một sợi dây màu đỏ, có nút buộc vụng về. Nhã Lam nói: “Có người dùng muốn để lại lời nhắn.” Cô đưa tôi một mảnh giấy. “Ô này không thuộc về ai cả. Nhưng ai cầm nó thì có trách nhiệm để người sau biết mình đã thấy nó.” Tôi hỏi: “Chị viết?” “Không. Một hành khách khác. Tôi chỉ xin phép đọc.” Tôi gật đầu. Minh Dã đứng cạnh tôi, vai áo ướt. “Cô có muốn đưa ô về không?” anh hỏi. “Anh muốn không?” “Muốn.” “Vì hết mưa rồi?” “Vì tôi muốn lần này hỏi cô trước.” Tôi cầm tay cầm ô. Không đưa ngay. “Vậy tôi trả lời: muốn.” Chúng tôi cùng gấp ô. Lần đầu tiên sau một